MyLabel

CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT

Niên giám Thống kê

Thống kê truy cập

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 12 và năm 2020

12/29/2020
I. PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế
Ước tính tốc độ tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2020 tăng 4,76% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức tăng trưởng thấp trong giai đoạn 2016-2020. Tuy nhiên, trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì tăng trưởng dương là thắng lợi của toàn bộ hệ thống chính trị, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Kết quả tăng trưởng khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế ứng phó với tác động của dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lòng, nỗ lực của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh trong thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe người dân, vừa phát triển kinh tế - xã hội. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,97%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng giữ mức tăng trưởng cao tăng 11,46%, đóng góp 2,38 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 3,52%, đóng góp 1,87 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 1,98%, đóng góp 0,07 điểm phần trăm vào tốc độ tăng GRDP.  
Quy mô nền kinh tế năm 2020 theo giá hiện hành đạt 18.986 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người ước tính đạt 35,62 triệu đồng, tăng 2,89 triệu đồng so với chính thức năm 2019. Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 4.392 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 23,13%; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 3.864 tỷ đồng, chiếm 20,35%; khu vực dịch vụ đạt 10.038 tỷ đồng, chiếm 52,87%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm đạt 692 tỷ đồng, chiếm 3,65%.     
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2020 chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, lốc, sét, mưa đá và dịch tả lợn Châu Phi đã ảnh hưởng tới kết quả sản xuất. Dưới sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của các cấp, các ngành, sự nỗ lực, phấn đấu của người dân; tổng sản lượng lương thực có hạt tăng so với cùng kỳ năm trước; sản lượng các loại cây lâu năm tăng cao; chăn nuôi gia cầm phát triển tốt; đàn lợn đang dần khôi phục; lâm nghiệp phát triển bền vững; sản xuất thủy sản tăng quy mô và sản lượng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã thể hiện vai trò bệ đỡ của nền kinh tế trong lúc khó khăn, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, là cơ sở quan trọng để thực hiện an sinh, an dân trong đại dịch.
Nông nghiệp
Cây hàng năm
Sản xuất nông nghiệp tháng 12 trong điều kiện thời tiết khô, hanh thuận lợi cho việc thu hoạch, phơi khô, bảo quản các sản phẩm sau thu hoạch vì vậy, trong tháng bà con tập trung thu hoạch diện tích lúa và hoa màu vụ mùa còn lại. Đồng thời, tiến hành cày ải, làm đất và gieo trồng các loại rau đậu cho vụ đông xuân năm tới.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2020 gặp nhiều khó khăn nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền trong công tác cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất của người dân; hệ thống kênh mương, trạm bơm thường xuyên cải tạo, sửa chữa, nâng cấp đáp ứng được nhu cầu nước tưới cho sản xuất; công tác phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông tiếp tục duy trì phát triển, các lớp tập huấn áp dụng khoa học kỹ thuật, quy trình chăm sóc cây trồng được mở rộng tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển. 
Trong năm 2020, đã triển khai thực hiện được 63 mô hình, dự án nông nghiệp hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với tổng vốn đầu tư hơn 58 tỷ đồng nhằm tạo ra sản phẩm ưu thế của tỉnh, đạt chất lượng, tiêu chuẩn VietGap, hữu cơ, có tem truy xuất nguồn gốc, nhãn hiệu, thương hiệu rõ ràng, phục vụ thị trường trong và ngoài tỉnh cũng như hướng đến mục tiêu xuất khẩu. Một số sản phẩm điển hình: nếp Ong Trùng Khánh; lúa chất lượng cao Japonica tại Quảng Hòa, Hòa An; lạc giống, ngô ngọt tại Hòa An, Hà Quảng; gừng trâu tại Hà Quảng; chanh leo tại Trùng Khánh, Quảng Hòa, Thạch An...
Kết quả chính thức sản xuất vụ đông xuân 
Tổng diện tích gieo trồng vụ đông xuân đạt 37.197,28 ha, tăng 0,34% hay tăng 126,16 ha so chính thức vụ đông xuân năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt vụ đông xuân năm 2020 đạt 121.186,43 tấn, tăng 1,79% hay tăng 2.129,03 tấn so cùng vụ năm 2019 và vượt 3,38% hay vượt 3.967,3 tấn so với kế hoạch. 
Kết quả sơ bộ vụ mùa
Tổng diện tích gieo trồng vụ mùa 2020 đạt 55.228,3 ha, giảm 1,1% hay giảm 612,92 ha so với cùng vụ năm trước; tổng sản lượng lương thực có hạt vụ mùa ước đạt 160.776,62 tấn, tăng 0,58% hay tăng 921,32 tấn. Vụ mùa năm nay sản xuất trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp, thời điểm gieo trồng nắng hạn kéo dài, tuy có mưa nhưng không đồng đều, lượng mưa ít, thiếu nguồn nước làm ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng; một số diện tích chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở, đất vườn và một phần diện tích phải bỏ hoang do nằm sâu trong thung lũng, đường đi lại khó khăn làm cho diện tích gieo trồng giảm đáng kể. Đến giai đoạn sinh trưởng và phát triển được bà con nông dân chủ động chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh đúng thời điểm kết hợp với nhiều đợt bón phân cân đối, vì vậy năng suất tăng hơn so với cùng vụ năm trước.
Cây lúa gieo trồng được 25.384,96 ha, giảm 4,59% hay giảm 1.220,44 ha so vụ mùa năm trước và đạt 97,15% so kế hoạch, giảm chủ yếu ở các huyện: Quảng Hòa giảm nhiều nhất 515,5 ha (152,3 ha hạn hán và ngập nước do đắp 2 đập thủy điện; 63,1 ha do chuyển đổi mục đích sang làm đường 208 và đường nội đồng; 297,1 ha không có nước cấy nên bà con nông dân chuyển sang trồng ngô); Hòa An giảm 231,47 ha; Thạch An giảm 125,79 ha; Trùng Khánh giảm 284,98 ha... Nguyên nhân do đầu vụ nắng nóng kéo dài, ít mưa vì vậy một số diện tích lúa ruộng không chủ động được nước, lúa nương năng suất đạt thấp nên bà con chuyển sang trồng ngô, dong riềng và một số cây hàng năm khác. Năng suất bình quân ước đạt 44,74 tạ/ha, tăng 1,22% so với cùng vụ năm trước; sản lượng đạt 113.571,46 tấn, giảm 3,43%.
Cây ngô diện tích gieo trồng là 14.937,98 ha, tăng 7,29% hay tăng 1.015,18 ha so với cùng vụ năm trước và bằng 107,34% so với kế hoạch, số tăng chủ yếu ở các huyện: Quảng Hòa tăng 611,71 ha; Hòa An tăng 120,52 ha; Bảo Lâm tăng 158,34 ha... Diện tích cây ngô tăng nhiều do là cây dễ trồng, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh nên bà con nông dân tận dụng gieo trồng hết diện tích và chuyển đổi một số diện tích từ cây chanh leo, mía, sắn... sang trồng ngô. Năng suất ước đạt 31,6 tạ/ha, tăng 1,26 tạ/ha so với cùng kỳ; sản lượng đạt 47.205,16 tấn, tăng 11,74% hay tăng 2.766,05 tấn so với cùng vụ năm trước và vượt 13,5% so với kế hoạch vụ. 
Cây đỗ tương trồng được 1.856,57 ha, giảm 14,22% hay giảm 307,73 ha, diện tích giảm nhiều do hiệu quả kinh tế không cao, vì vậy chủ yếu người dân trồng để phục vụ nhu cầu gia đình, một số diện tích chuyển sang trồng cây ăn quả; năng suất ước đạt 9,89 tạ/ha, tăng 1,12% so với cùng kỳ, sản lượng ước đạt 1.835,94 tấn, giảm 13,26% so với vụ mùa 2019. 
Cây lạc trồng được 1.725 ha, tăng 10,57% hay tăng 164,9 ha, diện tích tăng nhiều là do một số mô hình trồng lạc đã được triển khai: huyện Hòa An đã trồng được 30 ha; năng suất ước đạt 15,75 tạ/ha, tăng 3,62% hay tăng 0,55 tạ/ha và sản lượng ước đạt 2.716,95 tấn, tăng 14,93% hay tăng 352,95 tấn so cùng vụ năm trước. 
Sơ bộ cả năm 
Tổng diện tích gieo trồng đạt 92.425,58 ha, giảm 0,52% hay giảm 486,79 ha so với năm 2019. Trong đó: Nhóm cây lương thực có hạt gieo trồng được 69.790,33 ha, tăng 0,11% hay tăng 75,69 ha; diện tích tăng chủ yếu ở cây ngô, tăng 3,27% hay tăng 1.290,38 ha. Nhóm cây lấy củ có chất bột đạt 4.154,18 ha, giảm 11,2% hay giảm 523,88 ha, diện tích giảm nhiều ở cây sắn, giảm 19,23% hay giảm 531,43 ha, số giảm chủ yếu ở các huyện: Bảo Lạc, Trùng Khánh, Nguyên Bình... Do ảnh hưởng của dịch bệnh  Covid -19 tại một số vùng giáp biên không xuất bán sang Trung Quốc được, giá cả thấp. Nhóm cây có hạt chứa dầu gieo trồng được 4.535,77 ha, giảm 2,58% hay giảm 120,19 ha, diện tích giảm chủ yếu ở đỗ tương, giảm 12,54% hay giảm 353,36 ha chủ yếu ở các huyện: Trùng Khánh, Hà Quảng, Quảng Hòa, Hạ Lang, Bảo Lạc... Cây thuốc lá trồng được 3.025,77 ha, giảm 2,76% hay giảm 85,96 ha so với cùng kỳ, diện tích giảm do thiếu hụt lực lượng lao động ở vùng trồng thuốc lá, lực lượng lao động trẻ có xu hướng đi làm công nhân tại các khu công nghiệp miền xuôi. Đồng thời, do năm trước giai đoạn cây đang phát triển gặp thời tiết mưa nhiều, đến thời điểm thu hoạch và sấy thuốc lá chất lượng thấp nên nhiều hộ chuyển sang gieo trồng các loại cây khác như lúa, ngô, lạc...; cây mía trồng được 2.948,17 tấn, giảm 11,23% hay giảm 373,08 ha; số giảm chủ yếu là ở Quảng Hòa (-346,3 ha)... nguyên nhân do năm trước mất giá và khả năng thu mua của nhà máy đường giảm vì vậy người dân chuyển sang trồng các loại cây hàng năm khác như ngô, dong riềng. 
Ước tính năng suất và sản lượng một số cây trồng chính như sau: Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2020 ước đạt 281.963,05 tấn, tăng 1,09% hay tăng 3.050,42 tấn so năm trước. Trong đó: Cây lúa cả năm năng suất ước đạt 45,57 tạ/ha, tăng 1,34% hay tăng 0,6 tạ/ha so cùng kỳ, sản lượng lúa ước đạt 132.269,53 tấn, giảm 2,68% hay giảm 3.644,92 tấn so với năm 2019. Cây ngô năng suất ước đạt 36,75 tạ/ha, tăng 1,37% hay tăng 0,5 tạ/ha so cùng kỳ; sản lượng ước đạt 149.678,96 tấn, tăng 4,68% hay tăng 6.698,62 tấn so với năm 2019. Cây đỗ tương năng suất ước đạt 9,46 tạ/ha, giảm 0,03% so với cùng kỳ, sản lượng ước đạt 2.332,54 tấn, giảm 12,57% hay giảm 335,24 tấn so năm 2019. Cây lạc năng suất ước đạt 15,42 tạ/ha, tăng 3,04% và sản lượng ước đạt 3.151,53 tấn, tăng 15,62% hay tăng 425,8 tấn so năm trước. Cây thuốc lá, năng suất đạt 24,28 tạ/ha, giảm 4,74%; sản lượng đạt 7.346,18 tấn, giảm 7,38% hay giảm 585 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây mía năng suất ước đạt 627,8 tạ/ha, tăng 0,72% và sản lượng ước đạt 185.085,93 tấn, giảm 10,59% hay giảm 21.925,85 tấn so năm trước.  
Cây lâu năm
Trong tháng, chủ yếu là phát quang, cắt tỉa và chăm sóc diện tích trồng mới, đồng thời thu hoạch sản phẩm một số cây ăn quả để phục vụ gia đình và trao đổi trên thị trường như: đu đủ, chuối, ổi, cam, quýt, bưởi, chanh…
Diện tích cây lâu năm trên địa bàn tỉnh chủ yếu được trồng phân tán mang tính tự cung, tự cấp và đang dần hình thành vùng trồng tập trung phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa nhưng chưa nhiều... Trong năm 2020, thời tiết tương đối thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển các loại cây ăn quả và các loại cây lâu năm khác. Sơ bộ diện tích trồng cây lâu năm đạt 7.851,07 ha, tăng 0,56% hay tăng 43,63 ha so với năm 2019. Trong đó nhóm cây gia vị, cây dược liệu lâu năm đạt 4.535,57 ha, tăng 0,29% hay tăng 13,21 ha chủ yếu là cây dược liệu hà thủ ô; nhóm cây ăn quả đạt 2.664,97 ha, tăng 2,35% hay tăng 61,22 ha, một số cây ăn quả trọng điểm của tỉnh đang chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa vì vậy diện tích, sản lượng tăng hơn so với cùng kỳ năm trước như sản lượng cam, quýt, bưởi ước đạt 2.218,95 tấn, tăng 318 tấn, cây thanh long ước đạt 389,9 tấn, tăng 63,42 tấn, cây mận ước đạt 765,6 tấn, tăng 32,83 tấn, cây lê/cọt ước đạt 935,9 tấn, tăng 359 tấn... Nhóm cây lâu năm khác đạt 393,5 ha, giảm 7,19% hay giảm 30,5 ha; nhóm cây chè đạt 256,75 ha, tăng 3,49% hay tăng 8,65 ha.
Chăn nuôi 
Tình hình chăn nuôi năm 2020 trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Công tác thú y được quan tâm và chú trọng, công tác tiêm phòng và khử trùng tiêu độc chuồng trại trên đàn gia súc, gia cầm được chủ động. Việc kiểm soát giết mổ, kiểm dịch vận chuyển nội địa được quản lý chặt chẽ nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và ổn định tình hình dịch bệnh gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, cuối tháng 10 trên đàn trâu, bò xuất hiện bệnh viêm da nổi cục, theo cơ quan chuyên môn đây là bệnh lạ lần đầu tiên xuất hiện trên địa bàn tỉnh, rất dễ lây nhiễm.
Bệnh viêm da nổi cục trâu, bò xảy ra tại xã Lý Quốc huyện Hạ Lang từ ngày 28/10/2020, sau đó phát sinh thêm tại các xã trên địa bàn các huyện Hòa An, Trùng Khánh, Bảo Lạc. Tính từ ngày 28/10 đến ngày 25/12/2020 có 582 con mắc bệnh và chết 69 con (riêng tháng 12 chết 43 con). Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh, các cơ quan chuyên môn kết hợp với chính quyền địa phương các cấp đã triển khai các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh lây lan diện rộng, thành lập nhiều đoàn công tác kiểm tra tình hình dịch bệnh và lấy mẫu bệnh phẩm để kịp thời phát hiện sớm, xử lý, ban hành các văn bản hướng dẫn phòng chống bệnh viêm da nổi cục. Nhận định trong thời gian tới dịch bệnh vẫn có chiều hướng lây lan nên cần tiếp tục thực hiện các tốt các biện pháp phòng chống dịch. 
Dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được kiểm soát, những điểm tái bùng phát được khoanh vùng và triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp kiểm soát, phòng, chống dịch bệnh không để lây lan trên diện rộng, vì vậy đàn lợn có dấu hiệu hồi phục và tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2019; tính từ ngày 19/11 đến ngày 24/12 tổng số lợn mắc và tiêu hủy 156 con ở Hòa An, Trùng Khánh, Hạ Lang... lũy kế từ đầu năm dịch bệnh đã gây mắc 5.791 con lợn các loại với trọng lượng hơn 286 tấn, đã được chính quyền địa phương tổ chức tiêu hủy và xử lý ổ dịch theo đúng kỹ thuật. 
Các dịch bệnh thông thường như tụ huyết trùng, phân trắng, tiêu chảy, viêm phổi... làm chết 110 con trâu, bò (riêng trong tháng 12 làm chết 14 con). Bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, phù đầu lợn con... làm chết 403 con (riêng trong tháng 12 làm chết 23 con). Đàn gia cầm, dịch bệnh thông thường như tụ huyết trùng, newcatxơn, phân trắng... làm chết khoảng 3.638 con gia cầm các loại (riêng trong tháng 12 làm chết 185 con). 
Kết quả chăn nuôi 2020 đạt được như sau
Tổng đàn trâu hiện có 102.323 con, giảm 0,23% hay giảm 234 con so với cùng kỳ năm 2019; đàn trâu giảm do diện tích chăn thả bị thu hẹp để chuyển sang trồng các loại cây lâu năm, cây lâm nghiệp, xu hướng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp. Đàn bò hiện có 110.650 con, tăng 0,18% hay tăng 196 con; do trong năm trên địa bàn tỉnh có dự án hỗ trợ chăn nuôi bò thịt, chương trình hỗ trợ hiệu quả chăn nuôi nông hộ và hỗ trợ bò đực giống ở một số huyện dẫn đến đàn bò tăng. Tổng đàn lợn hiện có 285.180 con, tăng 3,04% hay tăng 8.408 con do dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát tốt, giá thịt lợn hơi ở mức cao và ổn định đã khuyến khích các hộ chăn nuôi tái đàn, vì vậy đàn lợn có xu hướng tăng nhưng không đáng kể. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, tổng đàn hiện có 2.989,5 nghìn con, tăng 7,95% hay tăng 220,21 nghìn con, đàn gia cầm tăng nhanh do có thị trường tiêu thụ, không có dịch bệnh lớn xảy ra nên người chăn nuôi yên tâm mở rộng quy mô đàn, nhiều hộ chăn nuôi lợn tận dụng chuồng trại bỏ trống để chăn nuôi các loại gia cầm thay thế.
Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng năm 2020 ước đạt 2.182,78 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ (6 tháng đầu năm tăng 13%, quý III/2020 giảm 2%, quý IV giảm 2,06% so với cùng kỳ năm trước); Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 2.075,18 tấn, giảm 3,44% hay giảm 73,9 tấn, do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, hoạt động trao đổi hàng hóa ở cửa khẩu bị hạn chế, các hộ chăn nuôi giãn việc vỗ béo đàn bò để bán sang Trung Quốc khiến sản lượng xuất chuồng giảm (6 tháng đầu năm tăng 1,8%, quý III/2020 giảm 5%, quý IV giảm 10,95% so với cùng kỳ); Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 24.089,98 tấn, giảm 5,64% hay giảm 1.439,18 tấn (6 tháng đầu năm giảm 11,04%, quý IV giảm 4,66%, riêng quý III/2020 tăng 11,35%); Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 6.570,38 tấn, tăng 11,62% hay tăng 684,12 (6 tháng đầu năm tăng 20,1%, quý III/2020 tăng 9,54%, quý IV tăng 1,3% do người tiêu dùng sử dụng thịt gia cầm các loại để thay thế thịt lợn), sản lượng trứng đạt 36.302,26 nghìn quả, tăng 15,58%. 
Lâm nghiệp    
Sản xuất lâm nghiệp tháng 12 chủ yếu là duy trì tốt công tác chăm sóc, khoanh nuôi rừng. Các dự án trồng cây lâm nghiệp tiếp tục triển khai thực hiện và đẩy nhanh tiến độ. Các hộ gia đình có diện tích rừng giao khoán và bảo vệ thường xuyên chăm sóc, phát quang chặt tỉa.
Trong năm 2020, các ngành chức năng thường xuyên chỉ đạo và đôn đốc thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. Chủ động xây dựng, bổ sung các phương án phòng chống cháy rừng trong mùa khô, kiểm soát chặt chẽ các hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Công tác phát triển rừng luôn được chú trọng, thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi trọc, phát triển kinh tế rừng và nâng tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh từ 54,7% năm 2019 lên 55,68% năm 2020. Kết quả sản xuất lâm nghiệp đạt được như sau:  
Ước năm 2020 diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 2.465,90 ha, so với năm trước bằng 91,06% (giảm 8,94% hay giảm 242,01 ha). Các huyện có diện tích rừng trồng mới nhiều như: Thạch An, Bảo Lạc, Trùng Khánh... Các loại giống cây lâm nghiệp được đưa vào trồng chủ yếu là thông, mỡ, sa mộc, keo, lát... Diện tích rừng trồng mới giảm do các Dự án Bảo vệ phát triển rừng và dự án trồng rừng khác diện tích được giao không nhiều. Chủ yếu diện tích rừng trồng mới là của các hộ dân tự mua cây giống về trồng trên diện tích các hộ được nhận giao khoán bảo vệ.
Diện tích rừng trồng được chăm sóc đạt 4.501,08 ha, giảm 7,29% hay giảm 354,08 ha, nguyên nhân do diện tích rừng trồng mới giảm và nhiều diện tích từ năm trước chuyển sang đã hết thời gian chăm sóc. Diện tích rừng giao khoán bảo vệ đạt 87.192 ha, giảm 43,58% hay giảm 67.354,84 ha. Diện tích rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh đạt 92.931,96 ha, tăng 91,95% hay tăng 44.517,67 ha, diện tích khoanh nuôi tái sinh tăng cao do diện tích trước đây được giao khoán bảo vệ chuyển sang, diện tích khoanh nuôi từ những năm trước tiếp tục được khoanh nuôi và được giao thêm diện tích rừng tự nhiên năm nay có độ che phủ dưới 0,1. 
Sản lượng khai thác gỗ đạt 23.851,51 m3, tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng gỗ khai thác hiện chủ yếu là từ rừng trồng, sản lượng gỗ tự nhiên rất ít, được tận dụng từ việc mở đường giao thông và cây phân tán. Sản lượng củi khai thác đạt 714.790 ster, tăng 2,35% hay tăng 16.397,36 ster so với cùng kỳ, sản lượng tăng chủ yếu là tận thu từ cành và ngọn cây khi khai thác gỗ rừng trồng. Các loại lâm sản khác như măng, rau rừng, mộc nhĩ, hạt trẩu, trám, mật ong, dược liệu... đem lại hiệu quả kinh tế cao nên được bà con tăng cường thu nhặt để phục vụ gia đình và trao đổi trên thị trường. 
Trong năm 2020 trên toàn tỉnh xảy ra 9 vụ cháy rừng với diện tích rừng bị cháy là 9,35 ha (riêng trong quý IV/2020 diện tích bị cháy là 6,56 ha); 54 vụ phá rừng với diện tích là 12,02 ha (riêng trong quý IV/2020 diện tích bị phá 1,29 ha). 
Thủy sản
Sản xuất thủy sản tháng 12 phát triển ổn định, các hộ nuôi trồng thủy sản tập trung chăm sóc diện tích nuôi trồng và khai thác những diện tích nuôi thả ở ruộng, ao, hồ, lồng bè. Việc đánh bắt các loại thủy sản trên sông, suối vẫn được duy trì nhưng sản lượng đánh bắt còn thấp do người dân dùng những phương tiện thô sơ để đánh bắt phục vụ gia đình là chủ yếu, sản lượng trao đổi trên thị trường ít. 
Trong năm 2020, sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh khá thuận lợi, ít chịu ảnh hưởng của thời tiết, thị trường tiêu thụ sản phẩm thuận lợi, giá cả ổn định nên giữ ổn định về quy mô. Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản 380,1 ha, tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước; Tổng sản lượng thủy sản ước đạt 546,63 tấn, tăng 1,5% hay tăng 8,09 tấn so với năm 2019. Trong đó: Sản lượng cá đạt 532,35 tấn, tăng 1,28%; tôm 2,08 tấn, giảm 1,42% và một số loại thủy sản khác đạt 12,2 tấn, tăng 12,96% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng sản lượng nuôi trồng ước đạt 435,27 ha, tăng 1,37% hay tăng 5,87 tấn so với cùng kỳ năm trước, trong đó: sản lượng cá thu được 433,73 tấn, tăng 5,8 tấn; thủy sản khác 1,54 tấn. Sản lượng thủy sản nuôi trồng trên địa bàn tỉnh không phong phú về chủng loại, chủ đạo vẫn là các loài cá: cá trắm, cá chép, rô phi, trôi, trê... phù hợp với khí hậu của địa phương. Phương thức nuôi chủ yếu là nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến và nuôi ao, chưa mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào quy trình nuôi nên sản lượng thu hoạch chưa được cao. 
Tổng sản lượng khai thác đạt 111,36 tấn, tăng 2,03% hay tăng 2,22 tấn, trong đó: cá đạt 98,62 tấn, tăng 0,92 tấn; tôm đạt 2,08 tấn, giảm 0,03 tấn; sản lượng thủy sản khác đạt 10,66 tấn, tăng 1,33 tấn. Sản lượng khai thác thủy sản tăng do thủy sản tự nhiên được người tiêu dùng ưa chuộng, giá thành tương đối cao nên nhiều hộ đánh bắt để cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho gia đình.  
3. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp năm 2020 đạt tốc độ tăng trưởng khá, giá trị gia tăng ngành công nghiệp tăng 12,68% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành sản xuất và phân phối điện tăng trưởng khá; ngành cung cấp nước, hoạt động xử lý rác thải giữ mức tăng trưởng ổn định; ngành công nghiệp chế biến chế tạo và ngành khai khoáng tăng trưởng âm do thiếu nguyên vật liệu đầu vào, thị trường tiêu thụ bị thu hẹp. 
Nhìn chung, tháng 12 và 12 tháng năm 2020 hoạt động công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì sản xuất. Tuy còn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 nhưng các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất công nghiệp đã cố gắng, nỗ lực, chủ động khắc phục khó khăn, huy động tối đa nguồn lực để sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện thay thế; tìm kiếm đối tác kinh doanh mới… đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tăng sản lượng và giá trị sản xuất công nghiệp so với năm 2019. 
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 12 năm 2020 giảm 0,1% so với tháng trước và bằng 99,15% so với cùng kỳ năm 2019. Số giảm chủ yếu là ở ngành sản xuất phân phối điện, giảm 13,09% nguyên nhân chủ yếu là do thời tiết chuyển lạnh nên nhu cầu sử dụng điện trong sinh hoạt của các hộ dân cư giảm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải giảm 0,07%. Bên cạnh đó, ngành khai khoáng và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số tăng cao so với tháng trước: ngành khai khoáng tăng 6,22% do thời tiết thuận lợi cho việc khai thác ngoài trời, các hợp tác xã, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn khi nhu cầu xây dựng, hoàn thiện các công trình tăng cao; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,86% do sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ nhanh và ổn định vì vậy tất cả các đơn vị hoạt động trong ngành chế biến chế tạo tăng công suất hoạt động, tăng sản lượng sản phẩm sản xuất. 
Nhìn chung, chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2020 tăng 4,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện là điểm sáng của khu vực này với mức tăng cao nhất 39,83% do có một số nhà máy thủy điện hoàn thành và đi vào hoạt động ổn định; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,93%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 11,57%; ngành khai khoáng giảm 9,83%.
Trong năm 2020, các sản phẩm tăng so với cùng kỳ: Điện sản xuất tăng 49%; gạch xây dựng tăng 15,17%; cát tự nhiên tăng 13,35%; đá xây dựng tăng 6,53%; nước uống được tăng 6,06%; điện thương phẩm tăng 5,66%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 1,66%... Các sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Đường giảm 48,78%; xi măng giảm 24,83% do giá cả không cạnh tranh với xi măng Quang Sơn, xi măng La Hiên của tỉnh Thái Nguyên, được các doanh nghiệp nhập về bán với giá thấp hơn vì vậy các đơn vị sản xuất xi măng trên địa bàn tỉnh giảm sản lượng sản xuất; quặng manggan và tinh quặng manggan giảm 15,91%; sắt thép không hợp kim giảm 2,47%; nước tinh khiết giảm 2,06%. 
4. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2021 so với quý IV/2020:
Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng tổng quan về tình hình sản xuất kinh doanh chế biến, chế tạo: 33,33% doanh nghiệp trả lời tốt lên; 33,33% doanh nghiệp trả lời tình hình sản xuất kinh doanh ổn định; 33,34% doanh nghiệp trả lời tình hình sản xuất kinh doanh khó khăn hơn. 
Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về khối lượng sản xuất ngành chế biến, chế tạo: 33,33% doanh nghiệp trả lời tăng lên; 33,33% doanh nghiệp trả lời giữ nguyên; 33,34% doanh nghiệp trả lời giảm đi.
Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về đơn đặt hàng mới ngành chế biến, chế tạo: 33,33% trả lời tăng lên; 33,33% trả lời giảm đi; 33,34% trả lời giữ nguyên. 
Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng hàng tồn kho thành phẩm ngành chế biến, chế tạo: 66,67% doanh nghiệp trả lời giữ nguyên; 33,33% doanh nghiệp trả lời giảm đi.
Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về tồn kho nguyên nhiên vật liệu ngành chế biến, chế tạo: 66,67% doanh nghiệp trả lời giữ nguyên; 33,33% doanh nghiệp trả lời giảm đi.
Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm ngành chế biến, chế tạo: 16,67% doanh nghiệp trả lời tăng lên; 83,33% doanh nghiệp trả lời giữ nguyên.
Tỷ lệ doanh nghiệp dự báo xu hướng về giá bán bình quân trên một đơn vị sản phẩm ngành chế biến, chế tạo: 100% doanh nghiệp dự báo giá bán ổn định. 
5. Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện năm 2020 tăng 5,72% so với năm 2019, vốn đầu tư tăng chủ yếu ở khu vực kinh tế Nhà nước với mức tăng 12,65%. Vốn đầu tư khu vực Nhà nước tăng cao do tỉnh đã tập trung đẩy mạnh thực hiện giải ngân vốn đầu tư công, góp phần khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội. Các công trình trọng điểm được đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành và đưa vào sử dụng,  chào mừng các sự kiện lớn của tỉnh.
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2020 theo giá hiện hành ước thực hiện được 10.510,6 tỷ đồng, tăng 5,72% so với năm 2019 và bằng 55,36% GRDP. Trong đó: Vốn đầu tư khu vực Nhà nước ước tính 6.804,25 tỷ đồng, tăng 12,65%; vốn đầu tư khu vực ngoài Nhà nước 3.705,8 tỷ đồng, giảm 4,94%; vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài 0,55 tỷ đồng, giảm 83,48%.
Trong vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước, vốn ngân sách do địa phương quản lý năm 2020 ước 4.116,26 tỷ đồng, tăng 65,74% so với năm trước. Bao gồm: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước 3.918,75 tỷ đồng, tăng 66,5%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước 197,51 tỷ đồng, tăng 52,0%.
Các công trình thực hiện trong kỳ báo cáo thuộc nguồn vốn Nhà nước có khối lượng lớn như: Các công trình đường giao thông, du lịch, trường học, trụ sở văn phòng làm việc các cơ quan đảng, đoàn thể, các dự án Chương trình 135, Chương trình xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ nhà ở người có công... thuộc nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh là chủ yếu.
6. Thương mại, dịch vụ, giá cả
Hoạt động thương mại, dịch vụ trong năm 2020 chịu nhiều ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Các ngành lưu trú, ăn uống, du lịch, vận tải doanh thu sụt giảm đáng kể, tuy nhiên doanh thu bán lẻ hàng hóa vẫn đạt tăng trưởng khá so với năm 2019 nhờ thực hiện các biện pháp kích cầu tiêu dùng nội địa, mở rộng thị trường, một số cơ sở kinh doanh kịp thời thay đổi phương thức bán hàng theo xu hướng mua sắm trực tuyến hiện nay.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 12/2020 ước đạt 877,28 tỷ đồng, tăng 3,67% so với tháng trước, tăng 13,02% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2020 ước đạt 8.980,02 tỷ đồng, tăng 7,24% so với năm 2019. Chia theo ngành hoạt động: 
Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 7.284,2 tỷ đồng, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tăng ở hầu hết các nhóm hàng, một số nhóm tăng cao như: lương thực, thực phẩm tăng 16,64%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,89%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 23,32%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 22,48%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 18,39%; hàng hóa khác tăng 19,67%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.202,57 tỷ đồng, giảm 5,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú giảm 14,76%; doanh thu dịch vụ ăn uống giảm 4,54%. Doanh thu dịch vụ ăn uống trong năm giảm còn do người dân có ý thức trong việc thực hiện Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt nên nhu cầu tiêu dùng rượu, bia tại các nhà hàng ăn uống giảm.
Doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 6,15 tỷ đồng, giảm 50,48% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh giảm mạnh so với cùng kỳ do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Sau khi dịch bệnh được kiểm soát tốt tại nước ta, tỉnh đã tăng cường triển khai các giải pháp kích cầu du lịch, tập trung truyền thông, quảng bá, xây dựng điểm đến an toàn và hấp dẫn để chào đón, thu hút khách du lịch đến với tỉnh Cao Bằng. Các tháng cuối năm hoạt động du lịch đã có những tín hiệu tích cực, nhu cầu tham quan, du lịch của du khách đã khởi động trở lại. Tuy nhiên lượng khách đến với các khu, điểm du lịch vẫn giảm sâu so với cùng kỳ năm 2019, chủ yếu là khách du lịch nội địa.
Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác ước đạt 487,1 tỷ đồng, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đô la Mỹ
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 năm 2020 giảm 0,55% so với tháng trước. Chỉ số giá trong tháng giảm chủ yếu do có 05/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ chỉ số giá giảm, trong đó giảm nhiều nhất ở nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,31% do nhóm thực phẩm giảm mạnh ở một số mặt hàng như thịt lợn và rau xanh, hoa quả đang vào vụ. Bốn nhóm chỉ số giá giảm ít hơn: may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,24%; nhà ở, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,08%; bưu chính viễn thông giảm 1,17%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,03%. Riêng nhóm giao thông chỉ số giá tăng cao 2,59% do giá xăng, dầu được điều chỉnh tăng. Các nhóm hàng hóa còn lại chỉ số giá ổn định hoặc tăng không đáng kể.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2020 giảm 2,08% so với tháng 12/2019. Tính chung quý IV năm 2020, chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá bình quân năm 2020 tăng 4,89% so với năm 2019.  
Chỉ số giá vàng tháng 12/2020 giảm 0,37% so với tháng trước, tăng 29,44% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân quý IV năm 2020 tăng 28,91% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân năm 2020 tăng 26,41% so với năm 2019.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 12/2020 giảm 0,15% so với tháng trước, bằng 100% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân năm 2020 tăng 0,18% so với năm trước.
Hoạt động vận tải
Doanh thu hoạt động vận tải
Tháng 12 năm 2020, doanh thu hoạt động vận tải ước đạt 32,65 tỷ đồng, tăng 8,51% so với tháng trước, giảm 21,43% so với cùng kỳ năm trước. 
Doanh thu hoạt động vận tải năm 2020 ước đạt 309,17 tỷ đồng, giảm 29,31% so với năm trước. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách ước đạt 71,31 tỷ đồng, giảm 42,21%, doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 226,43 tỷ đồng giảm 22,81%, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 11,43 tỷ đồng, giảm 44,56% so với năm 2019.
Vận tải hành khách
Dự ước tháng 12 năm 2020 số lượt hành khách vận chuyển đạt 145,36 nghìn lượt hành khách, tăng 9,86% so với tháng trước, giảm 20,72% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển đạt 8,48 triệu HK.Km tăng 12,61% so với tháng trước, giảm 17,41% so với cùng kỳ. 
Dự ước năm 2020 số lượng hành khách vận chuyển đạt 1.467,46 nghìn hành khách và số hành khách luân chuyển đạt 80,79 triệu HK.km, so với năm 2019 số hành khách vận chuyển giảm 28,13%, hành khách luân chuyển giảm 28,78%. 
Vận tải hàng hóa
Dự ước khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 12 năm 2020 đạt 473,28 nghìn tấn hàng hóa, tăng 14,62% so với tháng trước, giảm 15,38% so với cùng kỳ; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 5,29 triệu tấn.km, tăng 9,37% so với tháng trước, giảm 27,87% so với cùng kỳ. 
Ước tính năm 2020, khối lượng hàng hoá vận chuyển đạt 3.820,29 nghìn tấn, giảm 31,41% so với năm trước; khối lượng hàng hoá luân chuyển đạt 45,97 triệu tấn.km, giảm 36,9% so với năm 2019. 
II. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Dân số, lao động
Dân số trung bình năm 2020 của toàn tỉnh ước tính 533.086 người, tăng 2.230 người, tương đương tăng 0,42% so với năm 2019. Trong tổng dân số, dân số thành thị 126.032 người, chiếm 23,64%; dân số nông thôn 407.054 người, chiếm 76,36%; dân số nam 267.014 người, chiếm 50,1%; dân số nữ 266.072 người, chiếm 49,9%. Tỷ số giới tính của dân số năm 2020 là 100,4 nam/100 nữ.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của toàn tỉnh năm 2020 ước tính 350.428 người, tăng 1.503 người so với năm trước, bao gồm: Lao động nam 178.718 người, chiếm 51% tổng số và lao động nữ 171.710 người, chiếm 49%. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị 73.590 người, chiếm 21%; khu vực nông thôn 276.838 người, chiếm 79%. 
Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong năm 2020 ước tính 347.195 người, tăng 0,2% so với năm 2019, bằng 99,08% lực lượng lao động trên 15 tuổi của toàn tỉnh. Trong đó, lao động trong ngành Nông, lâm nghiệp, thủy sản 248.592 người, chiếm 71,6%; lao động trong ngành Công nghiệp và xây dựng 12.499, chiếm 3,6% và lao động trong các ngành Dịch vụ 86.104 người, chiếm 24,8%.
2. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội
Đời sống dân cư
Trong năm 2020, do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 đã tác động tiêu cực đến đời sống, tâm lý của người dân nhưng nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền các cấp, các ngành và sự nỗ lực của nhân dân nên đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, song chưa được cải thiện so với năm 2019. 
Đời sống của cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương từ ngân sách Nhà nước không có sự thay đổi so với năm trước do từ đầu năm đến nay không có sự điều chỉnh mới về mức lương cơ bản. Tuy nhiên, giá cả một số mặt hàng thiết yếu ổn định nên đời sống của cán bộ, công nhân viên chức, người lao động được ổn định. Đời sống nông dân ở khu vực nông thôn chưa được cải thiện do thiên tai, dịch bệnh gây thiệt hại cho cây trồng, vật nuôi làm ảnh hưởng đến đời sống nông dân. 
Công tác an sinh xã hội
Về kết quả giảm nghèo năm 2020: 
Theo kết quả sơ bộ điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo tỉnh Cao Bằng năm 2020 (theo chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-2020): Tổng số hộ nghèo là 28.660 hộ (giảm 4.956 hộ so với năm 2019); tỷ lệ hộ nghèo 22,06% (giảm 4,01% so với năm 2019). Tổng số hộ cận nghèo là 19.819 hộ (tăng 1.086 hộ so với năm 2019); tỷ lệ hộ cận nghèo 15,25% (tăng 0,72% so với năm 2019).
Công tác an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục được quan tâm và thực hiện hiệu quả:
Chính quyền địa phương và các đoàn thể thành lập các đoàn đi thăm, chúc tết và tặng quà cho các gia đình có công, lão thành cách mạng, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, các trung tâm đang nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ của tỉnh và tặng quà cho các đối tượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn sống tại cộng đồng trên địa bàn tỉnh là 28.770 suất quà với tổng giá trị 9.120,1 triệu đồng.  
Trợ cấp đột xuất cho những hộ bị cháy nhà, thiên tai, dịch bệnh, hoàn cảnh khó khăn... với tổng số tiền 23,238 tỷ đồng.
Hỗ trợ các đối tượng là hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo trợ xã hội bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 đã hỗ trợ cho 236.161 đối tượng với tổng số tiền hỗ trợ là 187,83 tỷ đồng.Công tác cấp phát gạo cứu đói trong dịp Tết Nguyên đán đã được thực hiện kịp thời, đã cấp phát gạo cứu đói tết cho 8.707 hộ (35.570 nhân khẩu) với tổng số gạo cấp phát là 533,55 tấn. 
Cứu đói giáp hạt trong năm 2020 đã cứu đói được 2.474 hộ tương ứng với 10.317 nhân khẩu với tổng số gạo cứu đói là 154,76 tấn gạo.
Số BHYT/sổ/thẻ/giấy khám chữa bệnh cấp miễn phí cho người nghèo, người dân tộc thiểu số sống tại các xã khó khăn, đặc biệt khó khăn, hộ cận nghèo, đối tượng bảo trợ xã hội (bao gồm cấp cho trẻ dưới 6 tuổi) là: 413.240 thẻ.
Bên cạnh đó, các chế độ chính sách đối với người có công và thân nhân người có công được thực hiện đầy đủ kịp thời.
3. Giáo dục đào tạo
Chuẩn bị tốt cho công tác triển khai Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 (đối với lớp 1, năm học 2020 – 2021), chất lượng giáo dục các cấp học, bậc học tiếp tục được nâng lên. Đặc biệt, công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trong trường học được thực hiện tốt. Tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020 và tuyển sinh các lớp đầu cấp năm học 2020 – 2021 an toàn, nghiêm túc, hiệu quả, tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 95,37%.
Duy trì, giữ vững kết quả phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi tại 100% xã, phường, thị trấn và huyện, thành phố; tất cả trẻ em học tại cơ sở trường mầm non được chăm sóc, giáo dục 2 buổi/ngày. Duy trì kết quả đã đạt được của phổ cập giáo dục tiểu học và chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi. Tiếp tục nâng cao chất lượng phổ cập, năm 2020 toàn tỉnh có 157/161 xã (97,5%) hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 3 và 4 xã đạt mức độ 2. Tiếp tục duy trì và nâng cao kết quả công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh thực hiện. Đến nay, toàn tỉnh có 150 trường đạt chuẩn quốc gia, dự kiến đến hết năm 2020 có thêm 22 trường đạt chuẩn quốc gia.
Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục được bố trí sắp xếp đủ về số lượng, cơ bản đảm bảo chất lượng, đạt chuẩn trình độ đào tạo theo quy định, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. 
4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Ngành Y tế đã chỉ đạo quyết liệt, triển khai và thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Tính đến hết ngày 13/12/2020, tỉnh Cao Bằng chưa ghi nhận, phát hiện trường hợp nào nghi ngờ mắc Covid-19.
Các bệnh truyền nhiễm khác có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm 2019: ghi nhận 12.170 ca mắc hội chứng cúm thông thường, giảm 452 ca; thủy đậu 239 ca mắc, giảm 76 ca; tay chân miệng 67 ca mắc, giảm 35 ca; quai bị 158 ca mắc, giảm 245 ca… không có ca nào tử vong. 
Trong năm, có 62 trường hợp nhiễm HIV mới, tăng 15 ca so với năm 2019, 24 trường hợp mới chuyển sang giai đoạn AIDS, 17 người nhiễm HIV/AIDS mới tử vong. Toàn tỉnh còn 1.326 người nhiễm HIV/AIDS đang còn sống; tổng số người đã tử vong do HIV/AIDS là 1.094 người.
Về ngộ độc thực phẩm, năm 2020 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ, với 57 người mắc, nhập viện 29 người, không có ca tử vong.
5. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong năm 2020, tỉnh đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện tiêu biểu của tỉnh như: chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân Canh Tý và tuyên dương công dân trẻ tiêu biểu tỉnh Cao Bằng; kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên tỉnh Cao Bằng (01/4/1930-01/4/2020); kỷ niệm 70 năm chiến thắng Biên giới năm 1950 và Giải phóng Cao Bằng (03/10/1950 – 03/10/2020)... Tuy nhiên, thực hiện phòng, chống dịch bệnh Covid-19 hầu hết các hoạt động đều bị giảm quy mô, hoãn hoặc lùi thời gian tổ chức.
Đẩy mạnh công tác bảo tồn, tôn tạo di tích, di sản, phát huy các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững. Di sản Lễ hội tranh đầu pháo Thị trấn Quảng Uyên, huyện Quảng Hòa được Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch công nhận là Di sản phi vật thể Quốc gia; Bia Ma nhai ngự chế của vua Lê Thái Tổ ở xã Hồng Việt huyện Hòa An được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật Quốc gia.
Thực hiện tốt cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới đô thị văn minh” và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Kết quả ước thực hiện năm 2020, tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa đạt 85%; tỷ lệ xóm, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa 55%; tỷ lệ cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa 95%; tỷ lệ xóm có nhà văn hóa đạt 80,7%.
Hoạt động thể dục thể thao phát triển rộng khắp trong tỉnh gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Thể thao thành tích cao được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tham gia thi đấu các giải khu vực và toàn quốc. Trong năm 2020, tổ chức giải thể thao cấp tỉnh được 08 giải; tham gia 10 giải khu vực và toàn quốc; số huy chương các loại đạt 40 huy chương. 
6. Tình hình an toàn giao thông
Từ ngày 16/11-15/12/2020 trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người, bị thương 19 người, giá trị tài sản thiệt hại 197 triệu đồng. Tổng số vụ tai nạn giao thông từ đầu năm đến nay 80 vụ, làm chết 37 người, bị thương 87 người, giá trị tài sản thiệt hại 1,1 tỷ đồng. So với năm 2019, tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí: số vụ tai nạn, số người chết và số người bị thương.
7. Tình hình thiệt hại do thiên tai
Trong năm 2020, trên địa bàn tỉnh xảy ra 19 vụ thiên tai do lốc, sét, mưa đá và sạt lở đất. Thiên tai xảy ra đã làm chết 03 người, bị thương 02 người, 07 nhà bị sập, 7.963 ngôi nhà bị tốc mái và hư hại, 787,91 ha lúa, ngô và hoa màu bị thiệt hại, làm chết 07 con gia súc và 75 con gia cầm và nhiều tuyến đường giao thông bị sạt lở. Ước tính giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra khoảng 78,89 tỷ đồng. Sau khi thiên tai xảy ra, chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội đã kịp thời đến thăm hỏi, động viên, hỗ trợ và có hướng khắc phục hậu quả đối với những gia đình bị thiệt hại./.

Nguồn: Phòng Thống kê Tổng hợp


File đính kèm:Chưa có tập tin đính kèm!


   

ẢNH HOẠT ĐỘNG

LIÊN KẾT WEBSITE