MyLabel

CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

Niên giám Thống kê

Thống kê truy cập

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022

10/31/2022
I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN
1. Nông nghiệp 
Sản xuất nông nghiệp trong tháng 10 tập trung thu hoạch các loại cây trồng vụ mùa như: lúa, ngô, đậu tương, lạc,… Đồng thời, làm đất gieo trồng các cây trồng vụ đông như ngô, rau màu các loại đảm bảo đúng tiến độ, kế hoạch thời vụ.
Tiến độ thu hoạch ước tính đến ngày 15/10/2022: lúa mùa đã thu hoạch được khoảng 15.829 ha, bằng 60,2% diện tích gieo trồng và giảm 2,76% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch ước đạt 68.337 tấn, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Cây ngô thu hoạch được 1.021 ha, tăng 7,93% so với cùng kỳ năm 2021; sản lượng thu hoạch ước đạt 3.380 tấn, tăng 6,69%. Cây đậu tương thu hoạch ước đạt 487 ha, giảm 8,63% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch được 440 tấn, giảm 9,28%. Cây lạc thu hoạch được 365 ha, giảm 0,82%; sản lượng thu hoạch được 490 tấn, giảm 0,41%. Khoai lang thu hoạch được 32 ha, giảm 3,03%; sản lượng thu hoạch được 221 tấn, giảm 2,64% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tiến độ thu hoạch các loại cây trồng chính vụ mùa giảm so với cùng kỳ năm trước do thời vụ năm nay diễn ra muộn hơn so với cùng kỳ năm trước. 
Ước tính vụ mùa: 
Tổng diện tích gieo trồng vụ mùa năm 2022 ước đạt 57.421 ha, tăng 0,38% hay tăng 218 ha so với cùng vụ năm trước, tăng chủ yếu ở một số cây trồng như: lúa, sắn, dong riềng, thạch đen... Nguyên nhân tăng do thời tiết đầu vụ thuận lợi bà con nông dân gieo trồng hết diện tích bỏ hoang từ những năm trước. Tổng sản lượng lương thực có hạt vụ mùa năm 2022 ước đạt 168.612 tấn, tăng 2,1% hay tăng 3.471 tấn so cùng vụ năm trước.
Cây lúa gieo trồng được 26.284 ha, tăng 2,87% hay tăng 732 ha ở các huyện: Trùng Khánh, Thạch An, Hà Quảng, Nguyên Bình... Năng suất ước đạt 45,35 tạ/ha, tăng 0,85%; sản lượng đạt 119.199 tấn, tăng 3,74% hay tăng 4.301 tấn so với cùng vụ năm trước.  
Cây ngô diện tích gieo trồng là 15.193 ha, giảm 1,29% hay giảm 199 ha ở các huyện: Quảng Hòa, Nguyên Bình... Diện tích cây ngô giảm do một số diện tích chuyển đổi sang trồng lúa, sắn, gừng và các loại cây hàng năm khác. Năng suất ước đạt 32,52 tạ/ha, giảm 0,36% so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 49.412 tấn, giảm 1,65% hay giảm 829 tấn so cùng vụ năm trước. 
Cây đậu tương trồng được 1.669 ha, giảm 10,17% hay giảm 189 ha; năng suất ước đạt 10,68 tạ/ha, giảm 1,13% so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 1.783 tấn, giảm 11,16% hay giảm 224 tấn so với vụ mùa 2021.
Cây lạc trồng được 1.582 ha, giảm 1,74% hay giảm 28 ha so cùng vụ năm trước; năng suất ước đạt 15,6 tạ/ha, tăng 0,97%; sản lượng ước đạt 2.469 tấn, giảm 0,76% hay giảm 19 tấn so với cùng vụ năm 2021 do diện tích gieo trồng giảm.    
Cây lâu năm
Trong tháng, các hộ gia đình tiếp tục thu hoạch các loại cây ăn quả phục vụ gia đình và thị trường như chuối, dứa, đu đủ, hồng, chanh, ổi, cam, quýt… Đồng thời, đầu tư cải tạo vườn, chăm sóc các loại cây vừa thu hoạch xong, loại bỏ những cây già cỗi, cho năng suất thấp, sản phẩm kém chất lượng và trồng mới một số diện tích cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. 
Tình hình dịch bệnh
Trong tháng, thời tiết khô hanh, đêm và sáng sớm có sương mù tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh và gây hại đối với cây trồng ở tất cả huyện, thành phố như: Bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn cổ bông trên cây lúa muộn; sâu keo mùa thu trên cây ngô, bệnh sâu keo, sâu gai, gây hại trên rau, đậu các loại… mức độ gây hại nhẹ và đã được cơ quan chức năng kịp thời khuyến cáo người dân xử lý các ổ bệnh không để lây lan trên diện rộng.
Chăn nuôi 
Trong tháng tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định, đàn gia súc và gia cầm tiếp tục được người chăn nuôi đầu tư chăm sóc, tăng cả về số lượng và sản lượng thịt hơi xuất chuồng. Dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục phát sinh các ổ dịch mới và lây lan thêm tại một số địa phương, tuy nhiên vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Công tác thú y trên địa bàn tỉnh được các ngành chức năng quan tâm chỉ đạo, chủ động tiêm phòng gia súc, gia cầm và khử trùng tiêu độc chuồng trại. Việc kiểm soát giết mổ, kiểm dịch vận chuyển nội địa được quản lý chặt chẽ. 
Tổng đàn trâu hiện có 105.301 con, tăng 4,1% hay tăng 4.145 con so với cùng kỳ năm trước; đàn bò hiện có 107.105 con, giảm 0,58% hay giảm 627 con; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng tháng 10 đạt 189 tấn, tăng 3,63% hay tăng 6 tấn so với cùng kỳ năm 2021, lũy kế từ đầu năm 1.539 tấn, tăng 3,44% hay tăng 51 tấn; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tháng 10 đạt 173 tấn, tăng 4,1% hay tăng 7 tấn, lũy kế từ đầu năm đạt 1.720 tấn, tăng 1,32% hay tăng 22 tấn so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng số lợn hiện có 311.769 con, tăng 5,58% hay tăng 16.478 con so với cùng thời điểm năm 2021; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng 10 đạt 1.973 tấn, tăng 3,97% hay tăng 75 tấn so với cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm đạt 21.198 tấn, tăng 3,02% hay tăng 621 tấn so với cùng kỳ năm trước.  
Tổng số gia cầm hiện có 2.998,76 nghìn con, tăng 0,39% hay tăng 11,53 nghìn con so với cùng thời điểm năm trước; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tháng 10 đạt 665 tấn, tăng 0,73% hay tăng 5 tấn, lũy kế từ đầu năm đạt 5.448 tấn, tăng 3,68% hay tăng 194 tấn; sản lượng trứng gia cầm đạt 2.699 nghìn quả, tăng 2,73%, lũy kế từ đầu năm đạt 29.894 nghìn quả, tăng 2,92% so với cùng kỳ năm trước. 
Từ ngày 15/9 đến ngày 12/10/2022, dịch tả lợn Châu Phi phát sinh các ổ dịch mới và lây lan thêm tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh, làm mắc và buộc tiêu hủy 487 con lợn tập trung chủ yếu ở huyện Trùng Khánh và Nguyên Bình; các ngành chức năng phối hợp với các ban, ngành địa phương tổ chức xử lý ổ dịch theo đúng kỹ thuật. Ngoài ra, các dịch bệnh thông thường vẫn xảy ra lác đác tại các địa phương: 01 con trâu chết do bệnh tụ huyết trùng; 07 con lợn chết do bệnh dịch tả, tụ huyết trùng...; 217 con gia cầm các loại chết do bệnh Niucatxơn, tụ huyết trùng...
2. Lâm nghiệp     
Sản xuất lâm nghiệp tháng 10 tập trung kiểm tra, chăm sóc và bảo vệ diện tích rừng hiện có. Các ngành chức năng tăng cường chỉ đạo và đôn đốc thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý kịp thời các vụ khai thác, vận chuyển lâm sản và chặt phá rừng trái phép; tăng cường bám sát địa bàn, tuyên truyền rộng rãi đến từng xã, xóm và hộ gia đình về các phương án phòng chống cháy rừng tại các địa phương trên địa bàn tỉnh. So với cùng kỳ năm trước, các chỉ tiêu như diện tích rừng trồng mới tập trung và sản lượng gỗ khai thác đều giảm mạnh do trong năm diện tích rừng được khai thác đạt thấp, một số chưa đến tuổi khai thác.
Diện tích trồng rừng mới trong tháng tính đến ngày 15/10/2022 ước tính đạt 17,13 ha, giảm 75,3% so với cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm là 1.741,37 ha, giảm 30,06%; sản lượng gỗ khai thác ước tính khoảng 2.010,52 m3, giảm 22,29% so cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm là 14.326,35 m3, giảm 41,53%; sản lượng củi khai thác khoảng 54.265,5 ste, tăng 1,36% so cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm 658.467,73 ste, tăng 0,1%.  
Trong tháng 10, toàn tỉnh có 2,1 ha diện tích rừng bị thiệt hại trong đó: diện tích rừng bị cháy 0,48 ha; diện tích rừng bị chặt, phá 1,62 ha.
 3. Thuỷ sản
Trong tháng 10, nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển ổn định, các hộ nuôi trồng tập trung vào chăm sóc và khai thác các loại thủy sản. Việc đánh bắt các loại thủy sản trên sông, suối vẫn được duy trì nhưng sản lượng đánh bắt thấp. Tổng sản lượng thủy sản tháng 10 ước tính đạt 72,01 tấn, tăng 2,24% hay tăng 1,58 tấn so với cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm 420,14 tấn, tăng 0,95% hay tăng 3,95 tấn, trong đó: Sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 14,64 tấn, giảm 1,49% hay giảm 0,22 tấn, lũy kế từ đầu năm 91,23 tấn, tăng 1,18% hay tăng 1,06 tấn; sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 57,37 tấn, tăng 3,24% hay tăng 1,8 tấn, lũy kế từ đầu năm 328,91 tấn, tăng 0,89% hay tăng 2,89 tấn.
II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, tuy còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất công nghiệp đã nhanh chóng khắc phục khó khăn, huy động tối đa nguồn lực để sản xuất kinh doanh có hiệu quả với hy vọng tăng trưởng mạnh trong những tháng cuối năm. 
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 10/2022 ước tính giảm 7,07% so với tháng trước và tăng 9,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành khai khoáng tăng 130,84%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,49%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,15%; riêng ngành chế biến, chế tạo giảm 18,72% so với cùng kỳ năm trước, chỉ số giảm chủ yếu ở ngành sản xuất kim loại do Công ty Cổ phần Gang thép Cao Bằng dừng sản xuất để bảo dưỡng toàn bộ dây chuyền sản xuất nửa đầu tháng 10.   
Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành khai khoáng tăng 43,42%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 35,35%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giữ ổn định; ngành chế biến, chế tạo giảm 13,39% so với cùng kỳ năm trước. 
Các sản phẩm sản xuất 10 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm 2021: nước tinh khiết tăng 42,09%; điện sản xuất tăng 38,35%; manggan và các sản phẩm của manggan tăng 35,32%; quạng manggan và tinh quặng manggan tăng 33,55%; gạch xây tăng 25,86%; điện thương phẩm tăng 18,88%; sản phẩm in khác tăng 10,55%; nước uống được tăng 0,09%. Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép giảm 74,61%; chiếu trúc, chiếu tre giảm 37,61%; cát tự nhiên các loại giảm 26,81%; sắt thép không hợp kim ở dạng bán thành phẩm giảm 26,65%; đá xây dựng giảm 25,07%; xi măng giảm 9,44%.
III. ĐẦU TƯ, XÂY DỰNG
Tháng 10 năm 2022 vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính đạt 419,13 tỷ đồng, tăng 22,2% so với tháng trước. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện được 409,13 tỷ đồng, tăng 22,8%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước thực hiện được 10,0 tỷ đồng, tăng 1,96% so với tháng trước. 
Trong tháng 9 năm 2022, tiếp tục có sự điều chỉnh vốn đầu tư công theo Quyết định số 1184/QĐ-UBND về việc giao, điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đầu tư công năm 2022, trong đó giao thêm 1.235,118 tỷ đồng vốn Chương trình mục tiêu quốc gia và điều chỉnh một số nguồn. Dự kiến trong những tháng cuối năm sẽ đẩy mạnh thực hiện và giải ngân cho các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia.
Các dự án có khối lượng thực hiện lớn trong tháng bao gồm: Hỗ trợ kinh doanh cho nông hộ (CSSP) tỉnh Cao Bằng; Đường tỉnh 208 (Giai đoạn 2); Đường tỉnh 213, 205; Cải tạo, nâng cấp đường từ Thị trấn Xuân Hòa - Thị trấn Thông Nông (huyện Hà Quảng); Đường nội thị Thị trấn Đông Khê, huyện Thạch An; Hạ tầng cơ bản phát triển toàn diện các tỉnh Đông Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn - Tiểu dự án tỉnh Cao Bằng; Bảo tàng Cao Bằng.
Tính chung 10 tháng năm 2022, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tính thực hiện được 1.987,81 tỷ đồng, bằng 44,41% kế hoạch năm 2022, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện được 1.888,48 tỷ đồng, tăng 15,11%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện ước thực hiện được 99,34 tỷ đồng, giảm 9,08% so với cùng kỳ năm 2021.
IV. THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ, GIÁ CẢ
Hoạt động thương mại dịch vụ của tỉnh trong tháng 10 và 10 tháng năm 2022 ít biến động, giá cả một số mặt hàng nhu yếu phẩm tương đối ổn định, không xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc tăng giá đột biến. Tình hình dịch Covid-19 cơ bản đã được kiểm soát tương đối tốt tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh.
1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10 năm 2022 ước đạt 807,25 tỷ đồng, tăng 5,52% so với tháng trước và tăng 20,73% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo ngành hoạt động:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 652,25 tỷ đồng, tăng 5,35% so với tháng trước và tăng 17,91% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu của tất cả các nhóm hàng trong tháng ước tăng cao hơn so với tháng trước, một số nhóm có mức tăng cao hơn mức tăng chung như: nhóm hàng may mặc tăng 7,82%; nhóm vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 6,06%; nhóm gỗ và vật liệu xây dựng tăng 10,87%; nhóm đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 6,11%; nhóm hàng hóa khác tăng 7,83% so với tháng trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 103,67 tỷ đồng, tăng 6,33% so với tháng trước, tăng 33,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước tính đạt 12,01 tỷ đồng, tăng 12,66%; dịch vụ ăn uống ước tính đạt 91,66 tỷ đồng, tăng 5,55% so với tháng trước.
Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành ước đạt 0,6 tỷ đồng, tăng 16,5% so với tháng trước và tăng gấp 15 lần so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng tại tỉnh đã diễn ra sự kiện "Tuần lễ Văn hóa - Thể thao - Du lịch" kỷ niệm 10 năm xây dựng và phát triển thành phố Cao Bằng; đồng thời tổ chức thành công Lễ hội Du lịch thác Bản Giốc tại huyện Trùng Khánh đã thu hút du khách trong và ngoài tỉnh, vì vậy doanh thu các ngành dịch vụ đạt cao hơn so với tháng trước.
Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 50,73 tỷ đồng, tăng 6,06% so với tháng trước và tăng 33,28% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 10 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 6.901,39 tỷ đồng, tăng 12,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 5.688,87 tỷ đồng, tăng 11,31%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 820,77 tỷ đồng, tăng 22,96%; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 4,0 tỷ đồng, tăng 54,91%; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 387,75 tỷ đồng, tăng 5,72%.
2. Hoạt động xuất nhập khẩu 
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn quản lý tháng 10 năm 2022 ước đạt 60,4 triệu USD tăng 6% so với tháng trước. Trong đó: kim ngạch nhập khẩu đạt 43,9 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu đạt 16,5 triệu USD, kim ngạch hàng giám sát, tạm nhập tái xuất đạt 13,6 triệu USD. Luỹ kế từ đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 712,7 triệu USD tăng 31% so với cùng kỳ năm trước.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: hạt điều đạt 4,9 triệu USD giảm 22% so với tháng trước; hạt tiêu đạt 2,7 triệu USD giảm 29%; kim loại thường khác và sản phẩm đạt 4,0 triệu USD tăng 8%; hàng rau quả đạt 0,405 triệu USD tăng 5%; gỗ đạt 0,381 triệu USD tăng 39% so với tháng trước.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu: Vải các loại đạt 7,4 triệu USD tăng 15%; Than các loại đạt 0,492 triệu USD giảm 60%; Máy móc thiết bị phụ tùng khác đạt 1,4 triệu USD giảm 78%; Ô tô vận tải đạt 3,8 triệu USD tăng 68750%; ô tô tải tự đổ đạt 15,4 triệu USD tăng 15% so với tháng trước.
3. Chỉ số giá
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2022 giảm 0,34% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 10 giảm do có 05/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm, bao gồm các nhóm: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,67%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,26%; giao thông giảm 1,23%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,14%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%. 
Có 04 nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá trong tháng tăng: may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,72% do thời tiết đang chuyển mùa, nhu cầu về hàng hóa nhóm này tăng dẫn đến giá tăng; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giáo dục tăng 0,06%. Còn 02 nhóm chỉ số giá ổn định, không tăng, không giảm so với tháng trước: nhóm đồ uống và thuốc lá, nhóm bưu chính viễn thông.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 năm 2022 tăng 4,79% so với tháng 12 năm 2021 (sau 10 tháng), tăng 5,04% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2022 tăng 1,20% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 10, chỉ số giá vàng tăng 0,21% so với tháng trước, tăng 1,34%  so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá vàng bình quân 10 tháng tăng 1,94% so với bình quân cùng kỳ. Chỉ số giá Đô la Mỹ tăng 1,69% so với tháng trước, tăng 5,29% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 10 tháng tăng 0,99% so với bình quân cùng kỳ.
4. Hoạt động vận tải
Doanh thu hoạt động vận tải tháng 10 năm 2022 ước đạt 31,72 tỷ đồng, tăng 6,39% so với tháng trước và tăng 37,09% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, doanh thu vận tải hành khách tăng 1,67%, doanh thu vận tải hàng hóa tăng 8,73% và doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 6,95%.
Lũy kế 10 tháng doanh thu vận tải ước đạt 258,33 tỷ đồng, tăng 6,47% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hành khách
Ước tính tháng 10 năm 2022 vận chuyển hành khách đạt 191,9 nghìn lượt hành khách, tăng 3,34% so với tháng trước, tăng 100,23% so với cùng kỳ năm trước; ước tính hành khách luân chuyển đạt 11.293,5 nghìn lượt HK.km so với tháng trước tăng 11,25%, tăng 134,6% so với cùng kỳ năm trước. 
Vận tải hành khách 10 tháng năm 2022 ước tính đạt 1.414,5 nghìn hành khách và đạt 80.273,8 nghìn lượt HK.km, so với cùng kỳ năm trước số hành khách vận chuyển tăng 32,95% và số hành khách luân chuyển tăng 33,92%.
Vận tải hàng hoá
Dự ước vận chuyển hàng hóa tháng 10 năm 2022 đạt 165,3 nghìn tấn hàng hóa và luân chuyển hàng hóa đạt 4.383,1 nghìn tấn.km, so với tháng trước tăng 12,53% hàng hóa vận chuyển và tăng 6,2% hàng hóa luân chuyển. 
Tính chung 10 tháng năm 2022, vận tải hàng hóa ước tính đạt 1.174,1 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 23,63%; hàng hóa luân chuyển ước tính đạt 35.778,9 nghìn tấn.km, giảm 3,74% so với cùng kỳ năm trước.
V. TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
1. Thu chi ngân sách 
Hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tháng 10 năm 2022 duy trì tiến độ. Thu ngân sách tăng khá so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu; chi ngân sách tập trung thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và đảm bảo hoạt động chuyên môn của các đơn vị sử dụng ngân sách. 
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 16/10/2022 đạt 3.347.943 triệu đồng, bằng 275% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa đạt 878.980 triệu đồng, bằng 86%; thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 2.464.168 triệu đồng, bằng 1.281% so với cùng kỳ năm trước; thu các khoản huy động, đóng góp 4.795 triệu đồng. Trong thu nội địa, ngành thuế thu 809.230 triệu đồng, chiếm 92,06% tổng thu, thu khác ngân sách 69.750 triệu đồng, chiếm 7,94%. 
Tổng chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 16/10/2022 đạt 5.111.290 triệu đồng, bằng 93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi thường xuyên và mục tiêu sự nghiệp đạt 4.036.093 triệu đồng, bằng 92%; chi đầu tư phát triển 1.071.907 triệu đồng, bằng 101%; chi trả nợ lãi 1.990 triệu đồng, bằng 179%; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính đạt 1.300 triệu đồng, đạt 100% so với cùng kỳ năm trước. 
2. Hoạt động tín dụng, ngân hàng 
Hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, thông suốt, đáp ứng đầy đủ các dịch vụ ngân hàng và nhu cầu giao dịch thanh toán, chuyển tiền… cho các đối tượng khách hàng theo quy định. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị định 31/2022/NĐ-CP ngày 20/5/2022 của Chính phủ về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Nguồn vốn huy động tại địa phương dồi dào, tăng trưởng tốt, cơ cấu vốn ổn định, tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng cao và sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu vốn hợp pháp phục vụ sản xuất kinh doanh. 
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có xu hướng tăng nhẹ, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh áp dụng mức lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước và diễn biến của thị trường. Lãi suất huy động tiền gửi biến động từ 0,1%-7,5% trên 1 năm, một số ngân hàng có chương trình cạnh tranh, lãi suất cao hơn mức lãi suất bình quân; lãi suất tiền gửi online cao hơn mức lãi suất tại quầy giao dịch từ 0,1-0,4%/năm để khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, góp phần đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên biến động từ 4,5%-11,65%; lãi suất cho vay kinh doanh thông thường phổ biến ở mức 7,5%-13% trên 1 năm phụ thuộc vào kỳ hạn từng gói tín dụng. 
Tổng vốn quản lý và huy động trên địa bàn ước tính đến 31/10/2022 đạt 26.000 tỷ đồng, tăng 3,5% hay tăng 882 tỷ đồng so với thời điểm đầu năm, trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 22.300 tỷ đồng, chiếm 85,77% tổng nguồn vốn và tăng 1,8% hay tăng 393 tỷ đồng; nguồn vốn quản lý ước đạt 3.700 tỷ đồng, chiếm 14,23% tổng nguồn vốn, tăng 15,22% hay tăng 489 tỷ đồng so với thời điểm đầu năm.
 Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đến 31/10/2022 ước đạt 14.400 tỷ đồng, tăng 37 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2021, trong đó nợ xấu 160 tỷ đồng, chiếm 1,11% tổng dư nợ. 
Hoạt động ngoại hối trên địa bàn không có biến động lớn, thị trường ngoại tệ diễn biến tích cực, thanh khoản tốt, tỷ giá ngoại tệ diễn biến linh hoạt theo cả hai chiều tăng/giảm; các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp đều được đáp ứng đầy đủ thông qua tổ chức tín dụng. Hoạt động kinh doanh vàng vẫn được duy trì ổn định, giá vàng được điều chỉnh phù hợp với biến động giá vàng trong nước, các nhu cầu giao dịch vàng của người dân cơ bản được đáp ứng. 
VI. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Tình hình dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm
Ngành Y tế chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tiếp tục tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, phòng chống dịch Covid-19, đẩy nhanh tiến độ tiêm vắc xin phòng Covid-19; chủ động kiểm soát nguy cơ dịch bệnh đảm bảo linh hoạt, hiệu quả; phát hiện, xử lý kịp thời các tình huống dịch bệnh xảy ra.
Luỹ tích đến 17h00 ngày 15/10/2022, tỉnh Cao Bằng xét nghiệm sàng lọc Covid-19 được 577.683 mẫu, trong đó có 97.953 mẫu dương tính, có 22 trường hợp bệnh đang được cách ly điều trị tại các cơ sở thu dung, điều trị của tỉnh, 153 trường hợp bệnh không có triệu chứng đang được cách ly, điều trị tại nhà, khỏi bệnh 97.714 người, chuyển tuyến trung ương 03 người  và tử vong 61 người.
Tiếp tục tổ chức, triển khai thực hiện tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19. Lũy tích số mũi tiêm đã thực hiện từ ngày 16/4/2021 đến ngày 15/10/2022 là 1.268.325 mũi.
Đối với các bệnh truyền nhiễm gây dịch khác: Trong tháng ghi nhận một số bệnh lưu hành như: Adeno 41 ca; Cúm 660 ca; Quai bị 02 ca; Thủy đậu 05 ca; Tiêu chảy 287 ca; 06 trường hợp Tay chân miệng; 01 trường hợp Rubella; 04 trường hợp Viêm gan B; 02 trường hợp sởi.
Trong tháng phát hiện 01 trường hợp nhiễm HIV mới. Số trường hợp đang điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tính đến tháng 10/2022 là 2.055 người.
Vệ sinh an toàn thực phẩm: Cuối tháng 9/2022 xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm tại huyện Trùng Khánh làm 28 người mắc, 07 người đi bệnh viện, không có tử vong.
2. Giáo dục
Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi trên địa bàn các huyện, thành phố; tiếp tục duy trì, giữ vững đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học với các đơn vị đã đạt mức độ 3; tiếp tục duy trì nâng cao kết quả phổ cập giáo dục trung học cơ sở đã đạt được của năm 2021, duy trì và giữ vững các xã đạt mức độ 2, mức độ 3. Tổ chức kiểm tra, công nhận 05 trường học đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 169 trường, sẽ tiến hành kiểm tra, công nhận mới thêm 06 trường, công nhận lại 15 trường đạt chuẩn quốc gia.
Kiểm tra nắm tình hình, tư vấn việc tổ chức dạy học theo chương trình GDPT, GDTX mới. Phối hợp với trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên bồi dưỡng module 6 cho giáo viên; phối hợp với Học viện Quản lý giáo dục tổ chức bồi dưỡng module 9 cho cán bộ quản lý theo chương trình giáo dục phổ thông mới.
3. Tình hình trật tự, an toàn giao thông
Từ ngày 15/9/2022 đến ngày 14/10/2022 trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 07 người chết, 06 người bị thương. So với tháng trước tai nạn giao thông tăng 03 vụ, tăng 04 người chết, tăng 05 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ, tăng 05 người chết, giảm 05 người bị thương.
4. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 15/9/2022 đến ngày 14/10/2022 lực lượng chức năng phát hiện 22 vụ vi phạm môi trường, xử lý hành chính 10 vụ với số tiền xử phạt 95,5 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện tăng 12 vụ và tăng 01 vụ vi phạm môi trường đã xử lý.
Về tình hình cháy, nổ: Trong tháng, xảy ra 02 vụ cháy nhà (tăng 01 vụ so với tháng trước). Hậu quả: không có thiệt hại về người, thiệt hại tài sản ước tính 1.100 triệu đồng.
5. Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng 10 năm 2022 xảy ra 01 vụ thiên tai do mưa lớn kéo dài gây lũ lụt, ngập lụt, sạt lở đất đá; làm 03 con trâu bị chết, cuốn trôi; các tuyến đường giao thông sạt lở QL34, ĐT202. Ước tính giá trị thiệt hại 11.266 triệu đồng.
So với tháng trước số vụ thiên tai giảm 01 vụ, không gây thiệt hại về người.

  File đính kèm:Chưa có tập tin đính kèm!


   

ẢNH HOẠT ĐỘNG

LIÊN KẾT WEBSITE