MyLabel

CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

Niên giám Thống kê

Thống kê truy cập

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 9 và 9 tháng năm 2022

9/29/2022
Theo Ngân hàng Thế giới dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2022 giảm đáng kể, từ mức 4,1% trong dự báo vào thời điểm đầu năm 2022 xuống còn 2,8% trong dự báo tháng 8/2022. Số liệu dự báo được điều chỉnh giảm do xung đột đang diễn ra ở U-crai-na, áp lực lạm phát gia tăng và chính sách thắt chặt tiền tệ ở các nền kinh tế phát triển. Đối với thị trường mới nổi và các nền kinh tế đang phát triển, những điều chỉnh dự báo chủ yếu do nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ suy giảm mạnh. Quỹ Tiền tệ Quốc tế hạ dự báo tăng trưởng của Trung Quốc 1,1 điểm phần trăm, xuống còn 3,3%, mức tăng trưởng thấp nhất trong hơn 4 thập kỷ. Tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ được điều chỉnh giảm 0,8 điểm phần trăm, xuống còn 7,4% trong năm 2022.
Trong 6 tháng đầu năm 2022, kinh tế Việt Nam đã phục hồi nhanh chóng khi các hạn chế về đại dịch được nới lỏng và các chiến dịch tiêm chủng được triển khai rộng rãi. Các chính sách hỗ trợ như lãi suất thấp, tăng trưởng tín dụng mạnh, và Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội của chính phủ đã giúp gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động bán lẻ và du lịch. Sự phục hồi kinh tế dự báo sẽ tiếp tục trong nửa cuối năm 2022, được hỗ trợ bởi các nền tảng kinh tế mạnh mẽ, chính sách tiền tệ linh hoạt và sự phục hồi nhanh hơn dự kiến trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng nội địa.
Tại tỉnh Cao Bằng, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban, ngành, địa phương thực hiện hiệu quả, đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp đề ra, triển khai hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, nhiều ngành, lĩnh vực có xu hướng phục hồi và tăng trưởng trở lại. Kết quả đạt được như sau:
I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN
Nhờ có những giải pháp ứng phó kịp thời, hiệu quả ngành Nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2022 đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận khi giá cả vật tư nông nghiệp đầu vào tăng cao, dịch tả lợn Châu Phi có chiều hướng diễn biến phức tạp trở lại. Tổng sản lượng lương thực có hạt tăng so với cùng kỳ năm trước; chăn nuôi phát triển ổn định, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng; sản xuất lâm nghiệp và thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước.
1. Nông nghiệp
Sản xuất nông nghiệp tháng 9 năm 2022 tập trung làm cỏ, bón phân và chăm sóc các loại cây trồng vụ mùa. Trong tháng, thời tiết thuận lợi, mưa nắng xen kẽ tạo điều kiện cây trồng sinh trưởng và phát triển. Tính đến ngày 15/9 diện tích gieo trồng các loại cây vụ mùa đạt được như sau:
Cây lúa mùa gieo trồng được 26.284 ha, tăng 2,86% hay tăng 732 ha so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu ở các huyện: Trùng Khánh, Thạch An, Hà Quảng, Nguyên Bình... Diện tích gieo trồng lúa tăng do năm trước bị hạn hán nhiều diện tích không gieo cấy được bị bỏ hoang hoặc chuyển sang trồng ngô, năm nay thời tiết thuận lợi, mưa nhiều nên người dân tiếp tục gieo trồng lúa trở lại. Cây ngô trồng được 15.193 ha, giảm 1,29% so với cùng kỳ năm trước; khoai lang trồng được 1.072 ha, giảm 1,38%; mía trồng được 2.778 ha, giảm 2,39% hay giảm 68 ha, diện tích mía giảm do giá bán thấp, khả năng tiêu thụ sản phẩm của nhà máy đường còn hạn chế vì vậy người dân đã chuyển sang trồng những cây khác như sắn, gừng…; đậu tương trồng được 1.669 ha, giảm 10,17%; lạc trồng được 1.582 ha, giảm 1,74%; rau các loại trồng được 2.028 ha, giảm 1,7%. Hiện nay, các cây trồng vụ mùa phát triển tốt và được bà con nông dân tập trung chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh gây hại để đạt kết quả tốt nhất về năng suất, sản lượng. 
Trong 9 tháng năm 2022, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn thời tiết diễn biến thất thường, giá cả vật tư nông nghiệp tăng cao làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền và các ban ngành liên quan, các địa phương chủ động lập kế hoạch cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để đảm bảo kế hoạch mùa vụ; đồng thời khuyến khích bà con nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang cây có giá trị kinh tế cao hơn và áp dụng các mô hình trồng trọt như: mô hình trồng ngô ngọt, mô hình trồng cây mạch, mô hình trồng cây gai xanh... Cụ thể, tình hình sản xuất nông nghiệp 9 tháng toàn tỉnh đạt được như sau: 
 Vụ Đông xuân: Kết quả chính thức, tổng diện tích gieo trồng vụ đông xuân đạt 37.932 ha, tăng 0,7% hay tăng 265 ha so chính thức vụ đông xuân năm 2021. Diện tích tăng chủ yếu ở cây lúa, thuốc lá và cây hàng năm khác (ớt cay, gừng, nghệ, cỏ voi)... Tổng sản lượng lương thực có hạt vụ đông xuân năm 2022 đạt 124.966 tấn, giảm 0,08% hay giảm 96 tấn so cùng vụ năm trước và tăng 4,71% so với kế hoạch. 
Vụ mùa: Tổng diện tích gieo trồng vụ mùa năm 2022 ước đạt 57.421 ha, tăng 0,38% hay tăng 218 ha so với cùng vụ năm trước, tăng chủ yếu ở một số cây trồng như: lúa, sắn, dong riềng, thạch đen... Nguyên nhân tăng do thời tiết đầu vụ thuận lợi bà con nông dân gieo trồng hết diện tích bỏ hoang từ những năm trước. 
Nhóm cây lương thực có hạt trồng được 41.480 ha, tăng 1,3% hay tăng 532 ha so với cùng vụ năm trước, số tăng chủ yếu là cây lúa, tăng 2,86% hay tăng 732 ha ở các huyện: Trùng Khánh, Thạch An, Hà Quảng, Nguyên Bình... Cây ngô giảm 1,29% hay giảm 199 ha so cùng vụ năm trước.  
Nhóm cây có hạt chứa dầu gieo trồng được 3.263 ha, giảm 6,24% hay giảm 217 ha so với vụ mùa năm 2021, trong đó cây đậu tương giảm 10,17% hay giảm 189 ha; cây lạc giảm 1,74% hay giảm 28 ha so cùng vụ năm trước, diện tích giảm là do việc tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn dẫn đến người dân chuyển sang gieo trồng các loại cây trồng khác.
Ước tính năng suất và sản lượng một số cây trồng chính vụ mùa như sau: Tổng sản lượng lương thực có hạt vụ mùa năm 2022 ước đạt 168.612 tấn, tăng 2,1% hay tăng 3.471 tấn so cùng vụ năm trước. Trong đó: Cây lúa năng suất bình quân ước đạt 45,35 tạ/ha, tăng 0,85% so với cùng vụ năm trước; sản lượng đạt 119.199 tấn, tăng 3,74% hay tăng 4.301 tấn so với cùng vụ năm trước. Cây ngô năng suất ước đạt 32,52 tạ/ha, giảm 0,36% so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 49.412 tấn, giảm 1,65% hay giảm 829 tấn. Cây đậu tương năng suất ước đạt 10,68 tạ/ha, giảm 1,13% so với cùng kỳ; sản lượng ước đạt 1.783 tấn, giảm 11,16% hay giảm 224 tấn so với vụ mùa 2021. Cây lạc năng suất ước đạt 15,6 tạ/ha, tăng   0,97%; sản lượng ước đạt 2.469 tấn, giảm 0,76% hay giảm 19 tấn so với cùng vụ năm 2021 do diện tích gieo trồng giảm.    
Cả năm: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 95.353 ha, tăng 0,51% hay tăng 483 ha so với năm 2021. Trong đó: Nhóm cây lương thực có hạt gieo trồng được 71.027 ha, tăng 0,77% hay tăng 544 ha; diện tích tăng chủ yếu ở cây lúa, tăng 2,78% hay tăng 811 ha; nhóm cây có hạt chứa dầu gieo trồng được 4.068 ha, giảm 6,2% hay giảm 269 ha; cây thuốc lá trồng được 3.291 ha, tăng 7,76% hay tăng 237 ha; cây mía trồng được 2.778 ha, giảm 2,39% hay giảm 68 ha. 
Ước tính năng suất và sản lượng một số cây trồng chính như sau: Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2022 ước đạt 293.578 tấn, tăng 1,16% hay tăng 3.375 tấn so năm trước. Trong đó: Cây lúa cả năm năng suất ước đạt 46,09 tạ/ha, tăng 0,64%; sản lượng ước đạt 138.257 tấn, tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước. Cây ngô năng suất ước đạt 37,88 tạ/ha, giảm 0,15% so với năm trước; sản lượng ước đạt 155.301 tấn, giảm 0,78% hay giảm 1.221 tấn so với năm 2021. Cây đậu tương năng suất đạt 10,22 tạ/ha; sản lượng ước đạt 2.216 tấn, giảm 10,28% hay giảm 254 tấn so với cùng kỳ năm trước. Cây lạc năng suất đạt 14,97 tạ/ha, tăng 0,41%; sản lượng ước đạt 2.810 tấn, giảm 1,37% hay giảm 39 tấn do diện tích gieo trồng giảm. Cây thuốc lá, năng suất đạt 26,02 tạ/ha, tăng 2,25%; sản lượng đạt 8.564 tấn, tăng 10,19% hay tăng 792 tấn so với năm 2021. Cây mía năng suất ước đạt 621,74 tạ/ha, tăng 1,91%; sản lượng đạt 172.688 tấn, giảm 0,54% hay giảm 946 tấn.  
Cây lâu năm
Trong tháng, các hộ gia đình tiếp tục thu hoạch các loại cây ăn quả phục vụ gia đình và thị trường như chuối, đu đủ, thanh long, chanh, ổi,… Đồng thời, đầu tư cải tạo vườn, chăm sóc các loại cây vừa thu hoạch xong, loại bỏ những cây già cỗi, cho năng suất thấp, sản phẩm kém chất lượng và trồng mới một số diện tích cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, nhu cầu của thị trường lớn. 
Trong những năm gần đây trên địa bàn tỉnh đã có sự quan tâm đầu tư, chú trọng duy trì và phát triển các loại cây lâu năm có giá trị kinh tế cao nhằm tạo nguồn lực phát triển kinh tế địa phương. Nhiều cây trồng lâu năm đã được triển khai trồng theo mô hình và nhận được sự đồng tình, hưởng ứng của người dân, doanh nghiệp như: nhóm cây dược liệu (có cây hồi, sa nhân, cát sâm); nhóm cây ăn quả (cây lê, mác ca, dâu tây...). Vì vậy, diện tích gieo trồng trong 9 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm trước.
Ước tính tổng diện tích các loại cây lâu năm 9 tháng năm 2022 hiện có là 9.298 ha, tăng 6,92% hay tăng 602 ha so cùng kỳ năm trước, tăng chủ yếu ở nhóm cây dược liệu, đặc biệt là cây hồi tăng 519 ha. Trong đó, nhóm cây gia vị, cây dược liệu lâu năm diện tích hiện có 5.901 ha, tăng 10,69% hay tăng 570 ha; nhóm cây ăn quả hiện có 2.785 ha, tăng 1,49% hay tăng 41 ha so với cùng kỳ; nhóm cây lâu năm khác diện tích hiện có 393 ha, giảm 1,01% hay giảm 4 ha so với cùng kỳ; nhóm cây chè và cây lấy quả chứa dầu diện tích hiện có 219 ha, giảm 2,23% hay giảm 5 ha. Sản lượng thu hoạch một số cây trồng chính 9 tháng 2022 như sau: Cây chuối thu hoạch đạt 2.181 tấn, tăng 62 tấn so với cùng kỳ năm trước; cây dứa thu hoạch đạt 367 tấn, tăng 18 tấn; bưởi thu hoạch đạt 373 tấn, tăng 20 tấn; chè búp thu hoạch đạt 184 tấn, tăng 4 tấn…
Tình hình dịch bệnh 
Tính đến ngày 15/9 thời tiết mưa nắng xen kẽ, độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh và gây hại đối với cây trồng ở tất cả huyện, thành phố như: Cây lúa bị bệnh rầy nâu, rầy lưng trắng, sâu đục thân, ốc bươu vàng; cây ngô bị bệnh châu chấu tre, sâu keo, bệnh khô vằn gây hại. Cây ăn quả bị nhiễm bệnh rệp muội, rệp sáp, ruồi đục quả, bọ xít, ngoài ra còn bệnh chảy gôm, bệnh greening, bệnh sẹo, bệnh thán thư, bệnh phấn trắng gây hại. Ngành chức năng theo dõi tình hình sâu bệnh gây hại trên cây trồng và kịp thời khuyến cáo người dân xử lý các ổ bệnh không để lây lan trên diện rộng, đặc biệt là cây lúa đang trong giai đoạn cuối đẻ nhánh - đứng cái ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, sản lượng. 
Chăn nuôi 
Trong 9 tháng năm 2022, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định, đàn gia súc và gia cầm tiếp tục được người chăn nuôi đầu tư chăm sóc. Dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục phát sinh thêm các ổ dịch mới và diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, tuy nhiên vẫn đang nằm trong tầm kiểm soát. Công tác theo dõi, giám sát dịch bệnh được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm phát hiện sớm các ổ dịch và kịp thời áp dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh theo quy định. Việc kiểm soát giết mổ, kiểm dịch vận chuyển nội địa được quản lý chặt chẽ, thường xuyên nhằm khống chế các dịch bệnh lây lan. 
Tổng đàn trâu hiện có 105.562 con, tăng 4,54% hay tăng 4.580 con so với cùng kỳ năm trước; đàn bò hiện có 107.494 con, giảm 0,39% hay giảm 416 con; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng lũy kế từ đầu năm 1.551 tấn, tăng 1,98% hay tăng 30 tấn (6 tháng đầu năm tăng 3,18%, quý III tăng 0,17%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng lũy kế từ đầu năm đạt 1.570 tấn, tăng 1,67% hay tăng 26 tấn (6 tháng đầu năm tăng 1,72%, quý III tăng 1,56%).
Tổng số lợn hiện có 311.238 con, tăng 4,62% hay tăng 13.731 con so với cùng thời điểm năm 2021; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng lũy kế từ đầu năm đạt 19.261 tấn, tăng 3,62% hay tăng 673 tấn (6 tháng đầu năm tăng 4,21%, quý III tăng 2,15%). 
Tổng số gia cầm hiện có 2.993,27 nghìn con, tăng 0,26% so với cùng thời điểm năm trước; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng lũy kế từ đầu năm đạt 5.040 tấn, tăng 2,09% hay tăng 103 tấn (6 tháng đầu năm tăng 1,79%, quý III tăng 2,58%); sản lượng trứng gia cầm lũy kế từ đầu năm đạt 30.014 nghìn quả, tăng 2,21% hay tăng 650 nghìn quả (6 tháng đầu năm tăng 3,21%, quý III tăng 0,21%).
Từ đầu năm đến ngày 14/9/2022, dịch tả lợn Châu Phi phát sinh thêm các ổ dịch mới tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh, làm mắc và buộc tiêu hủy 2.961 con lợn ở các huyện: Hạ Lang, Bảo Lâm, Trùng Khánh... Các ngành chức năng phối hợp với các ban, ngành địa phương tổ chức xử lý ổ dịch theo đúng kỹ thuật. Ngoài ra, các dịch bệnh thông thường vẫn xảy ra lác đác tại các địa phương: 58 con trâu, bò chết do bệnh tụ huyết trùng, tiêu chảy, viêm phổi...; 201 con lợn chết do bệnh dịch tả, tụ huyết trùng...; 2.231 con gia cầm các loại chết do bệnh Niucatxơn, tụ huyết trùng...
2. Lâm nghiệp    
Sản xuất lâm nghiệp tháng 9 tập trung kiểm tra, chăm sóc nuôi dưỡng, bảo vệ, khoanh nuôi diện tích rừng hiện có. Các dự án trồng cây lâm nghiệp tiếp tục triển khai thực hiện và đẩy nhanh tiến độ. Các hộ gia đình có diện tích rừng giao khoán bảo và bảo vệ thường xuyên chăm sóc, phát quang chặt tỉa.
Trong 9 tháng năm 2022, ngành chức năng tăng cường chỉ đạo và đôn đốc thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý kịp thời các vụ khai thác, vận chuyển lâm sản và chặt phá rừng trái phép. Các phương án phòng chống cháy rừng được xây dựng, bổ sung và tuyên truyền rộng rãi đến từng xã, xóm và hộ gia đình. Kết quả sản xuất lâm nghiệp 9 tháng đạt được như sau: Tổng diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 2.582 ha, tăng 6,66% hay tăng 161 ha so với cùng kỳ năm 2021 (6 tháng đầu năm tăng 11,35%, quý III tăng 1,41%), được trồng tập trung ở các huyện: Thạch An, Bảo Lâm, Bảo Lạc, Hòa An... Diện tích rừng trồng mới chủ yếu là các hộ dân tự mua cây giống về trồng trên diện tích rừng sau khi đã khai thác và mở rộng thêm để phát triển kinh tế rừng, vì vậy tiến độ trồng rừng tăng so cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác 9 tháng năm 2022 ước đạt 21.292 m3, giảm 2,84% hay giảm 621 m³ so với cùng kỳ (6 tháng đầu năm giảm 26,29%, quý III tăng 31,08%); sản lượng củi khai thác ước đạt 606.202 ste, tăng 1,97% hay tăng 11.714 ste (6 tháng đầu năm tăng 0,6%, quý III tăng 4,7%).   
Trong 9 tháng năm 2022 toàn tỉnh có 41,13 ha diện tích rừng bị thiệt hại (6 tháng đầu năm thiệt hại 19,18 ha, quý III thiệt hại 21,95 ha), bao gồm: diện tích rừng bị cháy 11,47 ha (10 vụ, giảm 05 vụ so cùng kỳ năm trước); diện tích rừng bị chặt, phá 29,66 ha (80 vụ, tăng 26 vụ so cùng kỳ năm trước).
3. Thủy sản
Sản xuất thủy sản tháng 9 phát triển ổn định, các hộ nuôi trồng thủy sản tập trung chăm sóc diện tích nuôi trồng và thu hoạch các loại thủy sản. Việc đánh bắt các loại thủy sản trên sông, suối vẫn được duy trì nhưng sản lượng đánh bắt còn thấp.
Trong 9 tháng năm 2022, ngành thủy sản trên địa bàn tỉnh phát triển tốt; mực nước trên các ao, hồ, sông, suối tương đối ổn định tạo điều kiện cho các loại thủy sản phát triển, bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng các loại thủy sản ngày càng lớn, giá bán ổn định. Vì vậy, đã khuyến khích các hộ nuôi trồng mạnh dạn đầu tư, mở rộng quy mô nuôi thủy sản bằng lồng bè, bể, bồn, tận dụng mọi khả năng sẵn có địa phương như sông, suối, ao, hồ để đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản. 
Tổng diện tích nuôi trồng 9 tháng năm 2022 ước đạt 362,5 ha, tăng 2,31% so cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản ước tính đạt 444,28 tấn, tăng 2,14% hay tăng 9,29 tấn so với cùng kỳ năm trước (6 tháng đầu năm tăng 1,17%, quý III tăng 3,6%) trong đó: Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 354,52 tấn, tăng 1,42% hay tăng 4,98 tấn (6 tháng đầu năm giảm 0,48%, quý III tăng 4,44%); sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 89,76 tấn, tăng 5,04% hay tăng 4,31 tấn (6 tháng đầu năm tăng 8,54%, quý III tăng 0,59%) so với cùng kỳ năm trước.
II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2022 tăng khá do hoạt động sản xuất kinh doanh các đơn vị sản xuất công nghiệp được duy trì và phát triển mạnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước (IIP quý I tăng 13,28%; quý II tăng 23,36%; quý III tăng 6,88% so với cùng kỳ năm trước).  
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 9/2022 ước tính tăng 4,36% so với tháng trước và tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành sản xuất và phân phối điện tăng 42,04%; ngành chế biến, chế tạo tăng 21,64%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,31%; riêng ngành khai khoáng giảm 37,48% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 13,28%, quý II tăng 23,36%, quý III tăng 6,88%), số tăng chủ yếu là ngành sản xuất và phân phối điện, ngành khai khoáng. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 38,02% (quý I tăng 62,07%, quý II tăng 77,16%, quý III tăng 8,81%) do thời tiết mưa nhiều và đều, dung lượng nước lớn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà máy thủy điện hoạt động có hiệu quả hơn, sản lượng tăng so với cùng kỳ. Ngành khai khoáng tăng 8,75% (quý I tăng 20,87%, quý II tăng 42,48%, quý III giảm 36,34%). Ngành chế biến, chế tạo giảm 4,98% (quý I giảm 8,34%, quý II giảm 24,17%, quý III tăng 25,49%), chủ yếu giảm ở ngành sản xuất kim loại giảm 7,63% do công ty Cổ phần Gang thép Cao Bằng gặp sự cố lò, thời gian bảo dưỡng định kỳ dài hơn năm trước vì vậy sản lượng phôi thép đạt thấp bằng 86,98% so với cùng kỳ năm trước. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,52% (quý I giảm 0,42%, quý II giảm 2,89%, quý III tăng 1,76%). 
Các sản phẩm sản xuất 9 tháng năm 2022 tăng so với cùng kỳ năm 2021: nước tinh khiết tăng 47,98%; điện sản xuất tăng 40,07%; manggan và các sản phẩm của manggan tăng 36,46%; điện thương phẩm tăng 27,01%; gạch xây tăng 25,8%; quặng manggan và tinh quặng manggan tăng 21,95%; sản phẩm in khác tăng 10,63%. Các sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: cửa ra vào, của sổ bằng sắt, thép giảm 74,14%; chiếu trúc, chiếu tre giảm 45,7%; đá xây dựng giảm 27,62%; cát tự nhiên các loại giảm 26,26%; xi măng giảm 17,03%; sắt, thép không hợp kim (phôi thép) giảm 13,02%; nước uống được giảm 0,75%.  
Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9 năm 2022 giảm 13,76% so với cùng kỳ năm trước và tăng 38,47% so với tháng trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 16,33% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 9 tháng giảm: sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 77,29%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 44,15%; sản xuất kim loại giảm 18,56%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,56%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 9 tháng tăng: sản xuất đồ uống tăng 54,15%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 4,58%; in sao bản chép các loại tăng 1,16%...
Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tháng 9 năm 2022 tăng 464,58% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so với cùng thời điểm năm trước: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 485,92%; sản xuất kim loại tăng 259,36%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 105,28%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 51,87%. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm: chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 22,5%; sản xuất đồ uống giảm 2,68%...
Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp tháng 9 năm 2022 giảm 2,67% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó: lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 6,67%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 3,79%. Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp 9 tháng năm 2022 giảm 4,07%, trong đó: lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 6,12%; doanh nghiệp ngoài quốc doanh giảm 1,19%. 
III. HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
Cùng với sự phục hồi và khởi sắc của nền kinh tế, tình hình đăng ký doanh nghiệp có triển vọng khi số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động tăng lên đáng kể. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh trong quý IV/2022 khả quan hơn quý III/2022.
1. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Tính đầu năm đến ngày 18/9/2022, có 134 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký 609,2 tỷ đồng, tăng 32,67% về số doanh nghiệp, tăng 20,1% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2021 và đăng ký hoạt động cho 91 đơn vị trực thuộc (17 chi nhánh, 70 địa điểm kinh doanh, 04 văn phòng đại diện). Ngoài ra, có 43 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 119 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, bao gồm: 92 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh; 27 doanh nghiệp giải thể.
2. Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Về tình hình sản xuất kinh doanh, có 12,5% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2022 khó khăn hơn quý II/2022; 77,5% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt lên. Dự kiến quý IV/2022 so với quý III/2022, có 43,75% số doanh nghiệp dự báo xu hướng kinh doanh tốt lên; 25% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 31,25% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.  
Về khối lượng sản xuất, có 31,25% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý III/2022 giảm so với quý II/2022; 68,75% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất ổn định và tốt hơn. Dự kiến quý IV/2022 so với quý III/2022, có 50% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng lên; 18,75% số doanh nghiệp dự báo ổn định và 31,25% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm. 
Về đơn đặt hàng, có 31,25% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý III/2022 giảm so với quý II/2022; 68,75% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và tăng. Xu hướng quý IV/2022 so với quý III/2022, có 43,75% số doanh nghiệp dự kiến có đơn đặt hàng tăng lên; 25% số doanh nghiệp dự kiến đơn đặt hàng ổn định và 31,25% số doanh nghiệp dự kiến đơn đặt hàng giảm. 
Về giá bán bình quân, có 12,5% số doanh nghiệp có giá bán bình quân quý III/2022 giảm so với quý II/2022; 87,5% số doanh nghiệp có giá bán bình quân ổn định và tăng. Xu hướng quý IV/2022 so với quý III/2022, 75% số doanh nghiệp giữ nguyên giá bán bình quân; 18,75% số doanh nghiệp tăng giá bán bình quân và 6,25% số doanh nghiệp giảm giá bán bình quân.  
III. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong 9 tháng năm 2022 theo giá hiện hành tăng 17,29% so với cùng kỳ năm 2021. Nhìn chung, vốn đầu tư tăng ở cả ba khu vực, tuy nhiên xét về tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư và mức độ tăng thì vốn khu vực ngoài nhà nước tăng nhiều nhất.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý III năm 2022 theo giá hiện hành ước thực hiện được 2.159,65 tỷ đồng, tăng 12,06% so với quý trước và tăng 20,32% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 9 tháng năm 2022, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành ước thực hiện được 5.732,28 tỷ đồng, tăng 17,29% so với cùng kỳ năm 2021. Bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 2.973,87 tỷ đồng, tăng 11,99%; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 2.758,13 tỷ đồng tăng 23,58%, vốn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 0,28 tỷ đồng, tăng 56,55%.
Trong vốn đầu tư khu vực Nhà nước, vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước ước thực hiện 1.608,37 tỷ đồng, tăng 14,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý 1.544,04 tỷ đồng, tăng 7,75%. 
Nhìn chung, quý III và 9 tháng năm 2022 vốn đầu tư tăng ở tất cả các khu vực và tăng so với cùng kỳ năm trước. Từ quý II trở đi các công trình xây dựng diễn ra thuận lợi hơn, đặc biệt là ở khu vực đầu tư công do đã phân bổ vốn chi tiết cho các chủ đầu tư. Mặt khác, mọi hoạt động của người dân được hồi phục trở lại sau hai năm chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, kéo theo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng tăng đáng kể, do đó doanh nghiệp tiếp tục bổ sung vốn và đầu tư xây dựng.
IV. THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ, GIÁ CẢ
Trong 9 tháng năm 2022, tình hình kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh dần hồi phục và có nhiều khởi sắc, hầu hết các ngành đều có doanh thu cao hơn so với cùng kỳ năm trước.
1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 9 năm 2022 ước đạt 784,08 tỷ đồng, tăng 6,49% so với tháng trước và tăng 23,63% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 6.113,22 tỷ đồng, tăng 11,58% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo ngành hoạt động:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 5.053,56 tỷ đồng, tăng 10,88% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm ngành hàng tăng so với cùng kỳ như: lương thực, thực phẩm tăng 3,89%; hàng may mặc tăng 2,03%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 24,61%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 67,58%; xăng, dầu các loại tăng 43,1%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 10,55%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 8,33%. Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh duy trì tương đối ổn định, giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm góp phần bình ổn giá cả thị trường.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 719,67 tỷ đồng, tăng 21,95% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 68,24 tỷ đồng, tăng 18,0%; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 651,43 tỷ đồng, tăng 22,38%. 
Doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành ước đạt 3,36 tỷ đồng, tăng 32,24% so với cùng kỳ năm trước. 
Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 336,63 tỷ đồng, tăng 2,41% so với cùng kỳ năm trước. Các loại hình dịch vụ hoạt động ổn định, đảm bảo phục vụ cho nhu cầu của người dân.
2. Hoạt động xuất, nhập khẩu 
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh Cao Bằng tháng 9 năm 2022: đạt 71,9 triệu USD, giảm 19% so với tháng trước. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu đạt 38,5 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu đạt 18,5 triệu USD, kim ngạch hàng giám sát, tạm nhập tái xuất đạt 14,9 triệu USD. Lũy kế từ đầu năm đạt 638,7 triệu USD tăng 29% so với cùng kỳ năm trước.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: Hạt điều đạt 6,3 triệu USD giảm 31% so với tháng trước; hạt tiêu đạt 3,9 triệu USD tăng 70%; Kim loại thường khác và sản phẩm đạt 3,7 triệu tăng 43%; hàng rau quả đạt 0,387 triệu USD tăng 679%; Gỗ đạt 0,274 triệu giảm 80% so với tháng trước. 
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu: Vải các loại đạt 6,5 triệu USD tăng 43% so với tháng trước; Máy móc thiết bị phụ tùng khác đạt 6,3 triệu USD giảm 67%; Than các loại đạt 1,2 triệu USD giảm 12%; Hàng rau quả đạt 0,532 triệu USD giảm 4%; Ô tô vận tải đạt 0,005 triệu USD giảm 100%; ô tô tải tự đổ đạt 11 triệu giảm 47% so với tháng trước.
3. Chỉ số giá
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 năm 2022 tăng 1,40% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng trong tháng tăng do có 07/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng. Trong đó, tăng nhiều nhất ở nhóm giáo dục tăng 32,63% do học phí của một số cấp học tăng theo Nghị quyết số 35/2022/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Cao Bằng ngày 15 tháng 7 năm 2022 về Ban hành Quy định mức thu học phí giáo dục mầm non, phổ thông công lập chương trình giáo dục đại trà và giáo dục thường xuyên năm học 2022-2023 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. 
Các nhóm hàng hóa, dịch vụ còn lại có chỉ số giá tăng gồm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,39%; nhóm may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,42%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,26%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,7%.
Mặt khác, trong tháng có 03 nhóm hàng hóa dịch vụ có chỉ số giá giảm: nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,02%; nhóm giao thông giảm 1,84% do giá xăng, dầu trong tháng được điều chỉnh giảm; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,47%. Riêng chỉ có nhóm hàng hóa và dịch vụ khác chỉ số giá ổn định, không tăng không giảm.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2022 tăng 5,15% so với tháng 12/2021 và tăng 4,71% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 0,78% so với cùng kỳ năm 2021.  
Chỉ số giá vàng tháng 9 năm 2022 giảm 2,11% so với tháng trước, giảm 0,54% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 9 tháng tăng 2,01% so với cùng kỳ năm 2021.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 9 năm 2022 tăng 0,3% so với tháng trước, tăng 3,41% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 9 tháng năm 2022 tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước.
4. Hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 9 năm 2022 ước đạt 33,39 tỷ đồng, tăng 3,17% so với tháng trước và tăng 36,11% so với cùng kỳ năm trước. 
Trong 9 tháng năm 2022, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 230,18 tỷ đồng, tăng 4,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách tăng 31,67%; doanh thu vận tải hàng hóa giảm 2,93%; doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm 20,74%.
Vận tải hành khách
Dự ước tháng 9 năm 2022 số lượt hành khách vận chuyển đạt 265,1 nghìn lượt hành khách, tăng 1,84% so với tháng trước, tăng 236,89% so với cùng kỳ năm trước; số lượt hành khách luân chuyển đạt 17.173,2 nghìn HK.Km tăng 4,27% so với tháng trước, tăng 331,71% so với cùng kỳ. 
Vận tải hành khách trong 9 tháng năm 2022 ước tính số lượt vận chuyển đạt 1.302,0 nghìn hành khách và số lượt luân chuyển đạt 76.001,8 nghìn HK.Km, so với cùng kỳ năm trước tăng 34,49% số hành khách vận chuyển và tăng 37,86% số hành khách luân chuyển.
Vận tải hàng hoá
Dự ước khối lượng hàng hóa vận chuyển tháng 9 năm 2022 đạt 171,2 nghìn tấn hàng hóa, tăng 7,4% so với tháng trước, tăng 33,99% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 4.691,6 nghìn tấn.km, tăng 2,45% so với tháng trước, tăng 0,64% so với cùng kỳ. 
Tính chung 9 tháng năm 2022, vận chuyển hàng hóa ước tính đạt 1.033,1 nghìn tấn hàng hóa, giảm 26,84%; hàng hóa luân chuyển ước tính đạt 31.960,1 nghìn tấn.km, giảm 5,19% so với cùng kỳ năm trước. 
V. TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG
1. Thu, chi ngân sách Nhà nước 
Hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn 9 tháng năm 2022 đạt được nhiều kết quả tích cực. Thu ngân sách tăng khá so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu; chi ngân sách tập trung thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và đảm bảo hoạt động chuyên môn của các đơn vị sử dụng ngân sách. 
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 16/9/2022 đạt 3.085.050 triệu đồng, bằng 281% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa đạt 780.257 triệu đồng, bằng 85%; thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 2.299.998 triệu đồng, bằng 1.315%. Trong thu nội địa, ngành thuế thu 719.826 triệu đồng, chiếm 92,25% tổng thu; thu khác ngân sách 60.431 triệu đồng, chiếm 7,75% so với cùng kỳ năm trước. 
Tổng chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 16/9/2022 đạt 4.254.188 triệu đồng, bằng 93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi thường xuyên và mục tiêu sự nghiệp đạt 3.350.463 triệu đồng, bằng 91%; chi đầu tư phát triển 721.251 triệu đồng, bằng 100%; chi trả nợ lãi 1.174 triệu đồng, bằng 130%; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính 1.300 triệu đồng. 
2. Hoạt động tín dụng ngân hàng  
Hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, thông suốt, đáp ứng đầy đủ các dịch vụ ngân hàng và nhu cầu giao dịch thanh toán, chuyển tiền… cho các đối tượng khách hàng theo quy định. Nguồn vốn huy động tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, cơ cấu nguồn vốn ổn định, tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng cao và sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu vốn hợp pháp phục vụ sản xuất kinh doanh.
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay được duy trì ổn định, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh áp dụng mức lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước và diễn biến của thị trường. Lãi suất huy động tiền gửi biến động từ 0,1%-6,99% trên 1 năm, một số ngân hàng có chương trình cạnh tranh, lãi suất cao hơn mức lãi suất bình quân; lãi suất tiền gửi online cao hơn mức lãi suất niêm yết tại quầy giao dịch từ 0,1-0,4%/năm để khuyến khích khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử, góp phần đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt. Lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên biến động từ 4,5%-11,65%; lãi suất cho vay kinh doanh thông thường phổ biến ở mức 7,5%-13% trên 1 năm phụ thuộc vào kỳ hạn từng gói tín dụng. 
Tổng nguồn vốn huy động và quản lý trên địa bàn ước tính đến 30/9/2022 đạt 25.600 tỷ đồng, tăng 1,9% hay tăng 482 tỷ đồng so đầu năm, trong đó: nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 22.200 tỷ đồng, chiếm 86,72% tổng nguồn vốn và tăng 1,8% hay tăng 393 tỷ đồng; nguồn vốn quản lý ước đạt 3.400 tỷ đồng, chiếm 13,28% tổng nguồn vốn, tăng 5,88% hay tăng 189 tỷ đồng so với 31/12/2021. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế ước tính đến 30/9/2022 đạt 13.750 tỷ đồng, tăng 891 tỷ đồng so với đầu năm, trong đó nợ xấu 180 tỷ đồng, chiếm 1,31% tổng dư nợ và tăng 0,49% so với 31/12/2021. 
 Hoạt động ngoại hối trên địa bàn không có biến động lớn, thị trường ngoại tệ diễn biến tích cực, thanh khoản tốt, tỷ giá ngoại tệ diễn biến linh hoạt theo cả hai chiều tăng/giảm; các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp đều được đáp ứng đầy đủ thông qua tổ chức tín dụng. Hoạt động kinh doanh vàng vẫn được duy trì ổn định, giá vàng được điều chỉnh phù hợp với biến động giá vàng trong nước; các nhu cầu giao dịch vàng của người dân cơ bản được đáp ứng. Từ đầu năm đến nay, giá vàng có xu hướng tăng, giảm theo biến động của thị trường, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới vẫn ở mức cao.
VI. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Giải quyết việc làm và dạy nghề 
Trong 9 tháng năm 2022, số lao động được đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 57 người; số lao động được giới thiệu việc làm, cung ứng lao động thông qua Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh 416 người; số lao động được tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm 3.300 người.
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp năm 2022 đẩy mạnh tuyên truyền, tư vấn tuyển sinh đối tượng bộ đội xuất ngũ; phối hợp với doanh nghiệp thực hiện chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động. Tổ chức 15 hội nghị tuyên truyền tuyển sinh, tư vấn hướng nghiệp, đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại các xã trên địa bàn tỉnh với tổng số 637 lượt người tham gia.
2. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội
Tình hình đời sống dân cư
Trong 9 tháng năm 2022, tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh Cao Bằng bị ảnh hưởng do dịch Covid-19 và giá một số hàng hóa tăng cao đặc biệt là xăng, dầu đã tạo áp lực lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. 
Đời sống của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hưởng lương từ ngân sách chưa được cải thiện so với cùng kỳ năm trước. Việc giải quyết các chế độ cho người lao động được thực hiện đầy đủ, kịp thời nhằm động viên, khích lệ tinh thần làm việc, nâng cao năng suất lao động của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
Đời sống dân cư ở khu vực nông thôn cơ bản ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, nâng cao nhờ chương trình xây dựng Nông thôn mới. Các hoạt động thương mại, dịch vụ ở nông thôn phát triển, nhiều làng nghề được duy trì và mở rộng, tạo việc làm và thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, một số mặt hàng như xăng dầu, phân bón, giống cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật... đều tăng giá gây khó khăn cho đời sống và sản xuất của người dân.
Công tác an sinh xã hội
Trong dịp Tết Nguyên đán, chính quyền địa phương và các đoàn thể đã thành lập các đoàn đi thăm, chúc tết và tặng 16.725 suất quà cho các hộ nghèo với số tiền 8.751,8 triệu đồng; tặng quà cho người cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, các đối tượng bảo trợ xã hội và các đối tượng khác với số tiền 6.115,7 triệu đồng; tặng quà cho các đối tượng người có công và thân nhân người có công là 19.860 suất quà với tổng số tiền 8.177,8 triệu đồng.
 Công tác cấp phát gạo cứu đói trong dịp Tết Nguyên đán và đói giáp hạt năm 2022 đã thực hiện kịp thời: Đã cấp phát 1.718,025 tấn gạo cứu đói cho 27.606 hộ với 114.535 nhân khẩu tại 10/10 huyện, thành phố.
Tặng quà của Chủ tịch nước ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7 cho đối tượng người có công và thân nhân người có công với tổng số 7.958 suất; tổng kinh phí 2,413 tỷ đồng. Đồng thời, thực hiện các nội dung theo Kế hoạch số 1076/KH-UBND ngày 09/5/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng về tổ chức các hoạt động kỷ niệm 75 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2022).
Cấp 365.486 thẻ BHYT cho người thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn,  đối tượng bảo trợ xã hội, người thuộc hộ cận nghèo.
Hỗ trợ xây mới và sửa chữa 1.202 nhà cho hộ nghèo, hộ chính sách xã hội với tổng số tiền 31.559 triệu đồng.
3. Giáo dục đào tạo
Tiếp tục thực hiện kế hoạch về thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục, xóa mù chữ của tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2021-2025; Kế hoạch thực hiện đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030” trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
Tiếp tục thực hiện rà soát, quy hoạch hệ thống trường, lớp học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và học, thực hiện thắng lợi chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 và tập trung xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. So với năm học 2020-2021, toàn tỉnh giảm thêm 06 cơ sở giáo dục bao gồm: 03 trường mầm non, 03 trường tiểu học. Đến nay, toàn tỉnh có 529 cơ sở giáo dục đào tạo, trong đó có: 178 trường Mầm non, 340 cơ sở giáo dục phổ thông; 09 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên; 01 trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh; 01 trường Cao đẳng sư phạm.
Tổ chức Hội thảo trực tuyến “Giới thiệu Sách giáo khoa lớp 3, lớp 7, lớp 10 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018”. Hướng dẫn các cơ sở giáo dục thực hiện lựa chọn sách giáo khoa lớp 3, lớp 7 và lớp 10 năm học 2022-2023 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Ban hành Quyết định phê duyệt danh mục sách giáo khoa lớp 3, lớp 7 và lớp 10 sử dụng trên địa bàn tỉnh Cao Bằng năm học 2022-2023.
Tổ chức thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2022-2023 và kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2022 tại tỉnh Cao Bằng. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm 2022 đạt 97,5%, tăng 1,5% so với năm 2021; điểm trung bình các môn thi tốt nghiệp THPT năm 2022 đạt 6,058 điểm, Cao Bằng xếp thứ 54/63 tỉnh, thành phố, tăng 7 bậc so với năm 2021.
Toàn ngành giáo dục tiếp tục thực hiện công tác phòng, chống dịch Covid-19, thực hiện theo đúng tinh thần "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19", đảm bảo an toàn phòng chống dịch Covid-19 trong các trường học. 
4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Hiện nay, để đảm bảo thực hiện "mục tiêu kép", vừa phòng chống dịch Covid-19, vừa duy trì và phát triển các hoạt động kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân, ngành Y tế tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện công tác phòng chống dịch Covid-19, chủ động kiểm soát nguy cơ dịch bệnh đảm bảo linh hoạt, hiệu quả; phát hiện, xử lý kịp thời các tình huống dịch bệnh xảy ra.
Tiếp tục đẩy nhanh hơn nữa tiến độ tiêm vắc xin, trong đó đặc biệt lưu ý các nhóm đối tượng có nguy cơ cao như bệnh nền, lực lượng tuyến đầu, công nhân, người cao tuổi; đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về tác dụng, hiệu quả của vắc xin, ngăn ngừa bệnh nặng, tử vong để khuyến khích, vận động người dân tham gia tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch.
Luỹ tích từ ngày 04/02/2020 đến ngày 14/9/2022, tỉnh Cao Bằng xét nghiệm sàng lọc Covid-19 được 572.024 mẫu, trong đó có 96.981 mẫu dương tính. Tính  đến 17h00 ngày 14/9/2022, có 90 trường hợp bệnh đang được cách ly điều trị tại các cơ sở thu dung, điều trị của tỉnh, 466 trường hợp bệnh không có triệu chứng đang được cách ly, điều trị tại nhà, khỏi bệnh 96.361 người, chuyển tuyến trung ương trên 03 người  và tử vong 61 người.
Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19. Lũy tích số mũi tiêm đã thực hiện tính từ ngày 16/4/2021 đến ngày 14/9/2021 là 1.256.057 mũi.
Đối với các bênh truyền nhiễm gây dịch khác trong 9 tháng năm 2022: ghi nhận một số ca bệnh lưu hành ở địa phương (không có trường hợp tử vong): Adeno 296 ca; hội chứng cúm thông thường 5.112 ca; Quai bị 15 ca; Thủy đậu 24 ca; Tiêu chảy 2.336 ca; 21 trường hợp Tay chân miệng; 25 trường hợp Rubella; 14 trường hợp Viêm gan B; 02 trường hợp Viêm gan C; 04 trường hợp Sởi lâm sàng; 01 trường hợp Sốt xuất huyết ngoại lai. Ngoài ra, ghi nhận 05 ca uốn ván sơ sinh trong đó tử vong 03 ca. Các trường hợp mắc lao, sốt rét, rối loạn tâm thần... được phát hiện đều được quản lý, điều trị theo quy định.
Trong 9 tháng có 25 trường hợp nhiễm HIV, 06 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS và 07 trường hợp mới tử vong. 
Từ đầu năm đến ngày 14/9/2022 trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm làm 20 người mắc, 16 người đi viện, có 02 người tử vong. Các vụ ngộ độc thực phẩm đã được điều tra theo đúng quy trình của Bộ Y tế.
5. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trong 9 tháng năm 2022, tỉnh đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện lịch sử quan trọng của đất nước và địa phương. Triển khai công tác gia đình và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” năm 2022; triển khai thực hiện đề tài "Nghiên cứu, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa người Lô Lô Đen tỉnh Cao Bằng" năm 2022. Tham gia lễ đón nhận bằng ghi danh "Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam" vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Lễ hội Thành Tuyên năm 2022.
Tổ chức các hoạt động thi đấu thể thao cấp tỉnh và tham gia các giải khu vực và toàn quốc năm 2022; tổ chức Ngày chạy Olympic Vì sức khỏe toàn dân tỉnh Cao Bằng năm 2022 tại huyện Nguyên Bình với trên 950 người tham gia; tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ IX năm 2022. Công tác đào tạo thể thao được tổ chức tốt theo kế hoạch. Trong 9 tháng năm 2022, tổ chức 02 giải thể thao cấp toàn quốc tại tỉnh: Giải Vô địch các Câu lạc bộ Pencak Silat quốc gia, Giải đua xe đạp Cao Bằng mở rộng năm 2022; Tham gia 13 giải khu vực và toàn quốc; Số huy chương các loại đạt được 98 huy chương.
6. Tình hình trật tự, an toàn xã hội
Tình hình an toàn giao thông
Từ ngày 15/8 đến ngày 14/9/2022, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm 03 người chết, 01 người bị thương. Lũy kế từ đầu năm, tai nạn giao thông xảy ra 48 vụ, làm 24 người chết, 58 người bị thương; so với cùng kỳ năm 2021 tai nạn giao thông tăng cả ba tiêu chí: tăng 08 vụ, tăng 01 người chết, tăng 12 người bị thương. 
Tình hình an toàn cháy, nổ
Trong tháng 9 năm 2022, trên địa bàn toàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nhà tại huyện Bảo Lâm, giá trị thiệt hại ước tính khoảng 225 triệu đồng. 
Trong 9 tháng, toàn tỉnh xảy ra 08 vụ cháy, nổ tổng giá trị thiệt hại ước tính 1.476 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 11 vụ cháy, nổ; giá trị thiệt hại giảm 50,67%.
Vi phạm môi trường
Trong tháng 9 năm 2022 ngành chức năng đã phát hiện 10 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 09 vụ với số tiền xử phạt là 106,3 triệu đồng. Tính chung 9 tháng năm 2022, số vụ vi phạm môi trường là 126 vụ, đã xử lý 81 vụ với số tiền xử phạt là 1.288,55 triệu đồng.
7. Thiệt hại do thiên tai
Trong 9 tháng năm 2022, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng xảy ra 18 vụ thiên tai do rét đậm, rét hại, mưa lớn, lũ, ngập lụt, sạt lở đất... Thiên tai đã làm chết 07 người, bị thương 02 người và nhiều thiệt hại về tài sản, cơ sở vật chất khác. Ước tính giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra khoảng 32.145 triệu đồng. Sau khi thiên tai xảy ra chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội đã kịp thời đến thăm hỏi, động viên và hỗ trợ tiền, công lao động đối với những gia đình bị thiệt hại.

  File đính kèm:Chưa có tập tin đính kèm!


   

ẢNH HOẠT ĐỘNG

LIÊN KẾT WEBSITE