MyLabel

CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT

Niên giám Thống kê

Thống kê truy cập

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tháng 11 năm 2021

11/29/2021
I. SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP VÀ THUỶ SẢN
1. Nông nghiệp 
Cây hàng năm
Sản xuất nông nghiệp trong tháng 11 chủ yếu thu hoạch các loại cây trồng vụ mùa như: lúa, ngô, đỗ tương, lạc, khoai lang… Đồng thời làm đất, gieo trồng các loại rau màu vụ đông xuân năm 2021-2022. 
Ước tính đến ngày 15/11/2021 toàn tỉnh đã thu hoạch được 24.436 ha lúa mùa, bằng 95,63% diện tích gieo trồng và tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch ước đạt 109.757 tấn, tăng 0,87% so với cùng kỳ năm trước. Cây ngô thu hoạch được 7.014 ha, bằng 45,57% diện tích gieo trồng và tăng 21,43% so với cùng kỳ năm 2020; sản lượng thu hoạch ước đạt 21.781 tấn, tăng 31,59% chủ yếu ở các huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm.... Cây đỗ tương thu hoạch được 1.378 ha, tăng 2,23% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch được 1.265 tấn, giảm 1,63% so với cùng kỳ năm 2020. Cây lạc thu hoạch được 1.186 ha, giảm 1,17%; sản lượng thu hoạch được 1.610 tấn, giảm 0,8%. Khoai lang thu hoạch được 370 ha, giảm 9,09%; sản lượng thu hoạch được 1.718 tấn, giảm 5,71% so với cùng kỳ năm trước. Cây mía thu hoạch được 1.663 ha, giảm 1,19%; sản lượng thu hoạch đạt 110.834 tấn, giảm 0,42% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, tiến độ thu hoạch các loại cây trồng chính vụ mùa đảm bảo kế hoạch mùa vụ; hiện nay các địa phương trong tỉnh đang đẩy nhanh tiến độ thu hoạch và dự kiến hoàn thành cuối tháng 11.
Ước tính vụ mùa: 
Tổng diện tích gieo trồng vụ mùa đạt 57.203 ha, tăng 3,58% hay tăng 1.975 ha so với cùng vụ năm trước, tăng chủ yếu ở một số cây trồng như: cây ngô, khoai lang, đỗ tương, rau các loại... Tổng sản lượng lương thực có hạt vụ mùa năm 2021 ước đạt 163.396 tấn, tăng 1,96% hay tăng 3.144 tấn so cùng vụ năm trước. Diện tích tăng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nhu cầu thuê lao động ở các cửa khẩu giảm mạnh; lao động làm việc tại các khu công nghiệp ở miền xuôi trở về nhà tránh dịch, nguồn lao động dồi dào vì vậy các hộ gia đình tận dụng gieo trồng hết diện tích bỏ hoang từ những năm trước và đầu tư mở rộng thêm.  
Cây lúa gieo trồng được 25.552 ha, tăng 0,66% hay tăng 167 ha so vụ mùa năm trước; năng suất bình quân ước đạt 44,58 tạ/ha, tăng 0,5% so với cùng vụ năm trước; sản lượng đạt 113.912 tấn, tăng 1,15% so với cùng vụ năm trước. Hiện nay một số huyện đang thực hiện chương trình tái cơ cấu cây lúa, chủ yếu là sử dụng các giống lúa thuần chất lượng tốt để sản xuất hàng hóa đáp ứng được nhu cầu thị trường, từng bước áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăm sóc vì vậy năng suất và sản lượng tăng so với cùng vụ năm trước. 
Cây ngô diện tích gieo trồng là 15.392 ha, tăng 3,04% hay tăng 454 ha ở các huyện: Trùng Khánh, Bảo Lạc, Hạ Lang, Hòa An... Diện tích cây ngô tăng nhiều do là loại cây dễ trồng, phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh nên bà con nông dân gieo trồng hết diện tích; một số diện tích chuyển đổi từ trồng mía, lạc... sang trồng ngô. Năng suất ước đạt 32,15 tạ/ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ; sản lượng đạt 49.482 tấn, tăng 3,87%.
Cây khoai lang trồng được 1.087 ha, tăng 1,21% hay tăng 13 ha so với vụ mùa năm trước do triển khai mô hình trồng khoai lang tím Nhật Bản ở huyện Quảng Hòa và chủ yếu phục vụ chăn nuôi; năng suất ước đạt 81,64 tạ/ha, tăng 0,63%; sản lượng đạt 8.875 tấn, tăng 1,77% so với vụ mùa 2020.
Cây đỗ tương trồng được 1.858 ha, tăng 0,05% hay tăng 1 ha; năng suất ước đạt 10,05 tạ/ha, tăng 9,6% so với cùng kỳ; sản lượng đạt 1.867 tấn, tăng 9,63% so với vụ mùa 2020.
Cây lạc trồng được 1.610 ha, giảm 6,67% hay giảm 115 ha so cùng vụ năm trước; năng suất ước đạt 15,60 tạ/ha, tăng 2,43%; sản lượng đạt 2.511 tấn, giảm 4,42% so với cùng vụ năm trước.   
Cây mía trồng được 2.846 ha, giảm 3,46% hay giảm 102 ha so với vụ mùa năm trước, chủ yếu ở huyện Quảng Hòa, Hạ Lang… Diện tích mía giảm do giá bán thấp, năng lực sản xuất của nhà máy đường còn hạn chế về sản lượng, một số vùng trồng mía còn xa Nhà máy và không xuất bán sang Trung Quốc được nên người dân đã dần phá bỏ cây mía để chuyển sang trồng các loại cây khác. Năng suất ước đạt 601,24 tạ/ha, giảm 0,69%; sản lượng đạt 171.111 tấn, giảm 4,13% so với cùng vụ năm trước.   
Cây lâu năm
Trong tháng, các hộ gia đình tiếp tục thu hoạch các loại cây ăn quả phục vụ gia đình và thị trường như chuối, đu đủ, ổi, cam, quýt… Đồng thời đầu tư cải tạo vườn, chăm sóc các loại cây vừa thu hoạch xong, loại bỏ những cây già cỗi, cho năng suất thấp, sản phẩm kém chất lượng và trồng mới một số diện tích cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, nhu cầu của thị trường lớn như bưởi, mít, na, … 
Tình hình dịch bệnh
Tính đến ngày 15/11 thời tiết mưa nắng xen kẽ, độ ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh và gây hại đối với cây trồng như: Bệnh sâu đục thân, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn lá gây hại trên cây lúa muộn; bệnh sâu đục thân, rệp xơ trắng, bệnh đốm vòng, bệnh đỏ bẹ lá, bệnh gỉ sắt gây hại trên cây mía. Cây ăn quả bị nhiễm bệnh rệp muội, rệp sáp, ruồi đục quả, bệnh thán thư... Hiện nay ngành chức năng tiếp tục theo dõi và kịp thời khuyến cáo người dân xử lý các ổ bệnh không để lây lan trên diện rộng.
Chăn nuôi 
Trong tháng tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định, dịch tả lợn Châu Phi và bệnh viêm da nổi cục được kiểm soát tốt, số lượng mắc và tiêu hủy giảm hơn so với tháng trước. Công tác theo dõi, giám sát dịch bệnh được các địa phương thực hiện thường xuyên, đa số các ổ dịch bệnh được phát hiện sớm và kịp thời áp dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh theo quy định. Công tác thú y trên địa bàn tỉnh được các ngành chức năng quan tâm chỉ đạo, chủ động tiêm phòng gia súc, gia cầm và khử trùng tiêu độc chuồng trại. Việc kiểm soát giết mổ, kiểm dịch vận chuyển nội địa được quản lý chặt chẽ nhằm khống chế các dịch bệnh lây lan, thực hiện vùng an toàn dịch bệnh.
Tổng đàn trâu hiện có 101.387 con, tăng 0,12% hay tăng 122 con so với cùng kỳ năm trước; đàn bò hiện có 107.335 con, tăng 0,1% hay tăng 109 con; sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng tháng 11 đạt 177,38 tấn, giảm 2,98% so với cùng kỳ năm 2020, lũy kế từ đầu năm 1.587,28 tấn, giảm 1,55%; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng tháng 11 đạt 203,45 tấn, giảm 2,02%, lũy kế từ đầu năm đạt 1.901,45 tấn, giảm 1,37% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số lợn hiện có 302.193 con, tăng 4,42% hay tăng 12.783 con so với cùng thời điểm năm 2020; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tháng 11 đạt 1.930,44 tấn, tăng 2,08%, lũy kế từ đầu năm đạt 21.440,9 tấn, tăng 1,68% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng số gia cầm hiện có 2.945,22 nghìn con, tăng 0,67% so với cùng thời điểm năm trước; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng tháng 11 đạt 669,96 tấn, tăng 1,17%, lũy kế từ đầu năm đạt 5.961,97 tấn; sản lượng trứng gia cầm đạt 2.831,86 nghìn quả, tăng 0,29%, lũy kế từ đầu năm đạt 31.258 nghìn quả, tăng 0,13% so với cùng kỳ năm trước.  
Từ ngày 13/10 đến ngày 11/11/2021, trên toàn tỉnh không phát sinh thêm ổ dịch mới và không có trâu, bò chết do bệnh viêm da nổi cục, lũy kế từ đầu năm 765 con; dịch tả lợn Châu Phi làm mắc và tiêu hủy 1.431 con, giảm 755 con so với tháng trước, lũy kế từ đầu năm 10.305 con của 1.976 hộ chăn nuôi với trên 514 tấn, các ngành chức năng phối hợp với các ban, ngành địa phương tổ chức xử lý ổ dịch theo đúng kỹ thuật. Ngoài ra, các dịch bệnh thông thường vẫn xảy ra lác đác tại các địa phương: 06 con trâu, bò chết do bệnh tụ huyết trùng, phân trắng, tiêu chảy, viêm phổi... lũy kế từ đầu năm là 88 con; 14 con lợn chết do bệnh dịch tả, tụ huyết trùng... lũy kế từ đầu năm là 183 con; 204 con gia cầm các loại chết do bệnh Niucatxơn, phân trắng... lũy kế từ đầu năm là 3.671 con.
 2. Lâm nghiệp     
Sản xuất lâm nghiệp tháng 11 tập trung kiểm tra, chăm sóc nuôi dưỡng, bảo vệ, khoanh nuôi diện tích rừng hiện có. Các ngành chức năng tăng cường chỉ đạo và đôn đốc thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý kịp thời các vụ khai thác, vận chuyển lâm sản và chặt phá rừng trái phép; tăng cường bám sát địa bàn, tuyên truyền rộng rãi đến từng xã, xóm và hộ gia đình về hoạt động quản lý bảo vệ rừng và các phương án phòng chống cháy rừng tại địa phương. 
Diện tích trồng rừng mới trong tháng tính đến ngày 15/11/2021 ước tính đạt 87,08 ha, tăng 14,73% so với cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm là 2.576,88 ha, tăng 42,59%; sản lượng gỗ khai thác ước tính khoảng 1.159,48 m3, giảm 22,7% so cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm là 25.660,08 m3, tăng 36,8%; sản lượng củi khai thác khoảng 72.743,85 Ste, giảm 0,1% so cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm 694.767,89 Ste, tăng 1,29%.  
Trong tháng 11 toàn tỉnh có 6,16 ha diện tích rừng bị thiệt hại bao gồm: 5,7 ha do cháy rừng tại huyện Hà Quảng; 0,46 ha do chặt phá rừng tại huyện Thạch An.  
 3. Thuỷ sản
Trong tháng 11, nuôi trồng và khai thác thủy sản vẫn duy trì ổn định, các hộ nuôi trồng tập trung vào chăm sóc và thu hoạch những diện tích thả từ trước. Việc đánh bắt các loại thủy sản trên sông, suối vẫn được duy trì nhưng sản lượng đánh bắt thấp chủ yếu mang tính chất tự cung, tự cấp. Tổng sản lượng thủy sản tháng 11 ước tính đạt 51,18 tấn, tăng 1,63% hay tăng 0,82 tấn so với cùng kỳ năm trước, lũy kế từ đầu năm 491,22 tấn, tăng 0,26% hay tăng 1,26 tấn, trong đó: Sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 9,39 tấn, tăng 2,22% hay tăng 0,21 tấn, lũy kế từ đầu năm 99,57 tấn, giảm 0,09% hay giảm 0,09 tấn; sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 41,79 tấn, tăng 1,49% hay tăng 0,61 tấn, lũy kế từ đầu năm 391,65 tấn, tăng 0,35% hay tăng 1,35 tấn. 
II. SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
Dịch Covid-19 kéo dài làm cho thị trường nguyên vật liệu đầu vào khan hiếm, chi phí sản xuất kinh doanh tăng vì vậy hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất khi nguồn nguyên liệu tại chỗ không đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh các đơn vị. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 và 11 tháng ước tính giảm so với cùng kỳ năm 2020.
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tháng 11/2021 ước tính giảm 10,17% so với tháng trước và giảm 1,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: ngành khai khoáng giảm 18,38%; ngành chế biến, chế tạo giảm 1,13%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 24,07%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,26% so với cùng kỳ năm trước. 
Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng giảm 9,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành khai khoáng giảm 14,94%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 10,82%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,92%; riêng ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,44%.
Trong 11 tháng năm 2021, một số sản phẩm tăng so với cùng kỳ năm trước: đường tăng 19,94%; cửa ra vào, cửa sổ bằng sắt, thép tăng 9,22%; nước uống được tăng 8,36%; điện thương phẩm tăng 3,64%. Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: xi măng giảm 57,1%; cát tự nhiên giảm 50,44%; chiếu trúc, chiếu tre giảm 39,98%; điện sản xuất giảm 13,46%; manggan và các sản phẩm của manggan giảm 10,9%; sắt, thép không hợp kim ở dạng bán thành phẩm (phôi thép) giảm 8,57%; đá xây dựng giảm 4,6%...
III. ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
Ước tính vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý tháng 11 năm 2021 thực hiện được 323,58 tỷ đồng, tăng 4,31% so với tháng trước, giảm 64,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện được 316,08 tỷ đồng, tăng 4,36%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước thực hiện được 7,5 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển của tỉnh tháng 11 năm 2021 ước đạt cao hơn so với tháng trước, tuy nhiên thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện đạt thấp chủ yếu do công tác giải phóng mặt bằng cho các dự án còn chậm; tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các công trình, dự án đang triển khai trên địa bàn tỉnh thiếu nguồn nhân công có tay nghề, đồng thời khó khăn trong việc nhập vật tư, nguyên liệu, thiết bị,… dẫn đến chậm tiến độ thực hiện các công trình. Ngoài ra, do năm 2021 là năm đầu của kỳ kế hoạch trung hạn giai đoạn 2021 - 2025, những tháng đầu năm chủ yếu thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, hiện nay bắt đầu triển khai thi công nên chưa thực hiện được nhiều khối lượng và giải ngân kế hoạch vốn. 
Khối lượng thực hiện trong tháng chủ yếu của một số dự án lớn như: Hạ tầng cơ bản phát triển toàn diện các tỉnh Đông Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn - Tiểu dự án tỉnh Cao Bằng; Chương trình đô thị miền núi phía Bắc - Thành phố Cao Bằng (Giai đoạn 2); Trạm kiểm soát liên hợp và hạ tầng cửa khẩu Sóc Giang, huyện Hà Quảng; Hỗ trợ kinh doanh cho nông hộ (CSSP) tỉnh Cao Bằng; Kè bờ trái, phải Sông Hiến; kè sạt lở, ổn định dân cư bờ trái, phải Sông Bằng - Thành phố Cao Bằng; Kè chống sạt lở Sông Bằng, bảo vệ khu dân cư thị trấn Nước Hai; Kè chống sạt lở ổn định dân cư Cao Bình, xã Hưng Đạo, Thành phố Cao Bằng; Cải tạo nâng cấp đường tỉnh 213, 208, quốc lộ 34, Quốc lộ 4A, đường Nà Pồng - Đức Hạnh (Bảo Lâm); Bảo tàng tỉnh Cao Bằng. 
Tính chung 11 tháng năm 2021, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện được 1.953,79 tỷ đồng, giảm 38,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện được 1.828,34 tỷ đồng, giảm 38,3%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện ước thực hiện được 125,45 tỷ đồng, giảm 34,68% so với cùng kỳ năm 2020.
Trong thời điểm cuối năm, tỉnh tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công năm 2021 theo các Nghị quyết của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và các văn bản chỉ đạo khác liên quan đến việc thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.
IV. THƯƠNG MẠI, DỊCH VỤ, GIÁ CẢ
Sau khi nhiều địa phương trên cả nước nới lỏng giãn cách xã hội, hoạt động vận tải hành khách liên tỉnh từ Cao Bằng đến một số tỉnh, thành phố được khôi phục trở lại đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại, du lịch, kinh doanh vận tải. Doanh thu các ngành có dấu hiệu phục hồi, nhìn chung tăng cao hơn so với tháng trước.
1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 11 năm 2021 ước đạt 824,04 tỷ đồng, tăng 3,89% so với tháng trước và tăng 2,43% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo ngành hoạt động:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 669,13 tỷ đồng, tăng 3,66% so với tháng trước và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu các nhóm hàng hóa, dịch vụ hầu hết cao hơn tháng trước, chỉ có nhóm phương tiện đi lại, trừ ô tô con giảm 2,23% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, doanh thu tăng cao ở một số nhóm như: gỗ và vật liệu xây dựng tăng 20,26%; xăng dầu các loại tăng 34,26%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 31,95%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 9,16%; hàng hóa khác tăng 10,82%; dịch vụ sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy tăng 11,99%. Các nhóm hàng hóa khác doanh thu giảm hoặc tăng không đáng kể.
Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 113,13 tỷ đồng, tăng 5,78% so với tháng trước và giảm 9,52% so với cùng kỳ năm trước. 
Dịch vụ du lịch lữ hành ước đạt 0,04 tỷ đồng, giảm 5,90% so với tháng trước, chỉ bằng 5,50% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh dần khởi động trở lại, nhiều đơn vị kinh doanh du lịch, các điểm, khu du lịch đã và đang xây dựng những “điểm đến an toàn” để từng bước phục hồi hoạt động, thích ứng an toàn trong điều kiện bình thường mới.
Doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 41,75 tỷ đồng, tăng 2,74% so với tháng trước và giảm 4,97% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 11 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 8.100,87 tỷ đồng, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 6.633,33 tỷ đồng, tăng 7,25%; doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.029,6 tỷ đồng, giảm 5,80%; doanh thu du lịch lữ hành ước đạt 2,62 tỷ đồng, giảm 52,0%; doanh thu hoạt động dịch vụ khác ước đạt 435,32 tỷ đồng, tăng 0,79%.
2. Hoạt động xuất nhập khẩu 
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn quản lý tháng 11 năm 2021 đạt 58,9 triệu USD, giảm 9% so với tháng trước. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu đạt 7,8 triệu USD, tăng 35%; kim ngạch xuất khẩu đạt 35,9 triệu USD, tăng 48%; kim ngạch hàng giám sát, kho ngoại quan đạt 15,2 triệu USD, giảm 56% so với tháng trước. Lũy kế từ đầu năm kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt 603,5 triệu USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước.
Một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: Hàng thủy sản đạt 16 triệu USD, tăng 25%; hàng rau quả đạt 0,574 triệu USD, giảm 19%; nhân hạt điều đạt 11,5 triệu USD, tăng 55%; cà phê đạt 0,183 triệu USD, tăng 10%; hạt tiêu đạt 0,163 triệu USD, giảm 4% so với tháng trước.
Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu: Than các loại 1,1 triệu USD, tăng 7%; gỗ và sản phẩm gỗ 0,368 triệu USD, tăng 130%; vải các loại 4,6 triệu USD, tăng 76% so với tháng trước.
3. Chỉ số giá
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2021 tăng 0,39% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng trong tháng tăng chủ yếu do chỉ số nhóm giao thông tăng 3,01%. Đồng thời, do một số nhóm chỉ số giá tăng như: nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,5%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,27%;  nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,36%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,47%. 
Trong tháng, có 02 nhóm chỉ số giá giảm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,15% và nhóm giáo dục giảm 0,06%. Các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác chỉ số giá không tăng hoặc tăng không đáng kể.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 năm 2021 giảm 1,18% so với tháng 12 năm 2020 và giảm 1,71% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 11 tháng năm 2021 giảm 1,51% so với bình quân cùng kỳ năm 2020.
Chỉ số giá vàng tháng 11 năm 2021 tăng 2,43% so với tháng trước, giảm 2,91% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá vàng bình quân 11 tháng năm 2021 tăng 8,12% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 11 năm 2021 giảm 0,28% so với tháng trước, giảm 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá Đô la Mỹ bình quân 11 tháng năm 2021 giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước.
4. Hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 11 năm 2021 ước đạt 24,99 tỷ đồng, tăng 7,98% so với tháng trước và giảm 16,36% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, doanh thu vận tải hành khách ước tăng 4,64%, doanh thu vận tải hàng hóa ước tăng 8,42%, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 19,23%.
Trong 11 tháng năm 2021, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ vận tải ước đạt 267,63 tỷ đồng, tăng 5,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Doanh thu hoạt động vận tải hành khách đạt 58,69 tỷ đồng, giảm 8,33%; doanh thu hoạt động vận tải hàng hóa đạt 202,11 tỷ đồng, tăng 12,65%; doanh thu hoạt động kho bãi đạt 6,83 tỷ đồng, giảm 28,52% so với cùng kỳ năm 2020.
Vận tải hành khách
Ước tính tháng 11 năm 2021 vận chuyển hành khách đạt 99,93 nghìn lượt hành khách, tăng 4,27% so với tháng trước, giảm 24,47% so với cùng kỳ năm trước; ước tính hành khách luân chuyển đạt 4,95 triệu HK.Km, tăng 2,91% so với tháng trước, giảm 34,24% so với cùng kỳ năm 2020. 
Vận tải hành khách trong 11 tháng năm 2021 ước tính đạt 1.163,89 nghìn hành khách và đạt 64,89 triệu HK.Km, so với cùng kỳ năm trước số hành khách vận chuyển giảm 11,98% và số hành khách luân chuyển giảm 10,07%.
Vận tải hàng hoá
Dự ước vận chuyển hàng hóa tháng 11 năm 2021 đạt 138,34 nghìn tấn hàng hóa và luân chuyển hàng hóa đạt 3,77 triệu tấn.km, so với tháng trước tăng 10,37%  hàng hóa vận chuyển và tăng 8,93% hàng hóa luân chuyển. So với cùng kỳ năm 2020 giảm 66,5% hàng hóa vận chuyển và giảm 22,13% hàng hóa luân chuyển.
Tính chung 11 tháng năm 2021, vận tải hàng hóa ước tính đạt 1.675,79 nghìn tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 7,47%; hàng hóa luân chuyển ước tính đạt 40,93 triệu tấn.km, tăng 13,0% so với cùng kỳ năm trước.
V. TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG
1. Thu, chi ngân sách Nhà nước 
Hoạt động thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tháng 11 năm 2021 duy trì tiến độ. Thu ngân sách tăng khá so với cùng kỳ năm trước, hiện nay các cơ quan chuyên môn tập trung chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả các giải pháp tăng thu đảm bảo đạt và vượt dự toán được giao; chi ngân sách tập trung thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, công tác phòng, chống dịch Covid-19 và đảm bảo hoạt động chuyên môn của các đơn vị sử dụng ngân sách. 
Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 15/11/2021 đạt 1.373.201 triệu đồng, bằng 113% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Thu nội địa đạt 1.151.984 triệu đồng, bằng 109%; thu cân đối từ hoạt động xuất, nhập khẩu đạt 218.217 triệu đồng, bằng 139%. Trong thu nội địa, ngành thuế thu 1.073.157 triệu đồng, chiếm 93,16% tổng thu, thu khác ngân sách 78.826 triệu đồng, chiếm 6,84%. 
Tổng chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn tính đến ngày 15/11/2021 đạt 6.203.964 triệu đồng, bằng 82% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Chi thường xuyên đạt 4.932.499 triệu đồng, bằng 90%; chi đầu tư phát triển 1.268.257 triệu đồng, bằng 61%; chi trả nợ lãi 1.907 triệu đồng, bằng 136%; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính đạt 1.300 triệu đồng, đạt 100% so với cùng kỳ năm trước. 
2. Hoạt động tín dụng, ngân hàng 
 Hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, thông suốt, đáp ứng đầy đủ các dịch vụ ngân hàng và nhu cầu giao dịch thanh toán, chuyển tiền… cho các đối tượng khách hàng theo quy định. Triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ khách hàng theo Nghị quyết 126/NQ-CP ngày 08/10/2021 của Chính phủ và Quyết định số 33/2021/QĐ-TTg ngày 06/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ. Nguồn vốn huy động tại địa phương dồi dào, tăng trưởng tốt, cơ cấu vốn ổn định, tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng cao và sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu vốn hợp pháp phục vụ sản xuất kinh doanh. 
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay duy trì ổn định, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh áp dụng mức lãi suất huy động vốn, lãi suất cho vay phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước và diễn biến của thị trường. Lãi suất huy động tiền gửi biến động từ 0,1%-6,99% trên 1 năm; lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên biến động từ 4,5%-12%; lãi suất cho vay kinh doanh thông thường phổ biến ở mức 7,5%-13% trên 1 năm phụ thuộc vào kỳ hạn từng gói. 
Tổng vốn quản lý và huy động trên địa bàn ước tính đến 30/11/2021 đạt 24.610 tỷ đồng, tăng 3,4% hay tăng 809 tỷ đồng so đầu năm, trong đó: Nguồn vốn huy động tại địa phương ước đạt 21.455 tỷ đồng, chiếm 87,2% tổng nguồn vốn và tăng 2,8% hay tăng 583 tỷ đồng; nguồn vốn quản lý ước đạt 3.155 tỷ đồng, chiếm 12,8% tổng nguồn vốn, tăng 7,7% hay tăng 226 tỷ đồng so với đầu năm.
Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đến 30/11/2021 ước đạt 12.690 tỷ đồng, tăng 182 tỷ đồng so với đầu năm, trong đó nợ xấu 89 tỷ đồng, chiếm 0,7% tổng dư nợ và tăng 12,2 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2020. Nợ xấu tại các ngân hàng có xu hướng tăng so với đầu năm do dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp ảnh hưởng tới kinh tế, đời sống xã hội, hoạt động sản xuất kinh doanh trì trệ, sức hấp thụ vốn kém, tình hình tài chính của khách hàng gặp khó khăn do mất nguồn thu để trả nợ…; tiến độ xử lý và thu hồi nợ xấu còn chậm và gặp nhiều khó khăn. 
Hoạt động ngoại hối trên địa bàn không có biến động lớn, thị trường ngoại tệ diễn biến tích cực, thanh khoản tốt, tỷ giá ngoại tệ diễn biến linh hoạt theo cả hai chiều tăng/giảm; các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp đều được đáp ứng đầy đủ thông qua tổ chức tín dụng. Hoạt động kinh doanh vàng vẫn được duy trì ổn định, giá vàng được điều chỉnh phù hợp với biến động giá vàng trong nước, các nhu cầu giao dịch vàng của người dân cơ bản được đáp ứng. 
VI. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Tình hình dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm
  Hiện nay nước ta đang chuyển hướng chiến lược phòng, chống dịch sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”. Số ca nhiễm mới Covid-19 đang có xu hướng tăng nhanh tại nhiều địa phương trên cả nước. Tại tỉnh Cao Bằng, ngày 05/11/2021 đã ghi nhận ca mắc Covid-19 đầu tiên, là công dân trở về từ vùng dịch. Tính đến 9h00 ngày 23/11/2021 tỉnh đã ghi nhận 84 ca mắc Covid-19, hiện tại đang được cách ly, điều trị theo quy định tại các cơ sở y tế.
Về hoạt động tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19: Tính từ ngày 16/4-22/11/2021, trên địa bàn tỉnh đã có 424.124 người từ 18 tuổi trở lên được tiêm phòng vắc xin, trong đó 265.192 người được tiêm mũi 1 và 158.932 người được tiêm đủ 2 mũi. Tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên tiêm ít nhất 1 mũi vắc xin chiếm 71,87%, tỷ lệ tiêm đủ 2 mũi vắc xin chiếm 43,07%.
Đối với các bệnh truyền nhiễm gây dịch khác: Trong tháng ghi nhận 04 ca Rubella lâm sàng, 06 ca viêm gan vi rút B và một số bệnh dịch lưu hành tại địa phương như: Cúm thông thường 780 ca; Tiêu chảy 311 ca; Thủy đậu 07 ca; Quai bị 07 ca, bệnh do vi rút Adeno virus 37 ca… Tất cả các trường hợp mắc bệnh được phát hiện, điều trị và xử lý kịp thời, không có tử vong. Ngoài ra, ghi nhận 01 trường hợp tử vong do dại tại xã Ngọc Côn, huyện Trùng Khánh.
Trong tháng phát hiện 07 trường hợp nhiễm mới HIV, 01 người nhiễm HIV/AIDS tử vong, không có trường hợp mới chuyển AIDS. Số trường hợp đang điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tính đến tháng 11/2021 trên địa bàn tỉnh là 1.602 người.
Trong tháng, trên địa bàn toàn tỉnh không có vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra.
2. Giáo dục đào tạo
Các cơ sở giáo dục tiếp tục thực hiện tốt kế hoạch năm học 2021-2022, triển khai thực hiện các phong trào thi đua chào mừng Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Công tác phòng chống dịch Covid-19 trong hoạt động giáo dục được đảm bảo theo phương châm 5K của Bộ Y tế. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được quan tâm thực hiện; công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.
Thực hiện Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn, năm học 2021-2022 toàn tỉnh có 28 đơn vị trường học với 19.784 lượt học sinh được hỗ trợ tiền ăn ở trên 44 tỷ 722 triệu đồng. Từ số gạo và tiền được hỗ trợ đảm bảo quyền lợi học tập cho học sinh ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng học sinh bỏ học, thực hiện tốt mục tiêu tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có chất lượng cho địa phương.
3. Trật tự an toàn giao thông
Trong tháng 11 (từ 15/10 - 14/11/2021) trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ tai nạn giao thông đường bộ làm 02 người chết, không có người bị thương, giá trị thiệt hại tài sản ước tính khoảng 03 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 07 vụ, không tăng, không giảm số người chết, giảm 11 người bị thương.
 Lũy kế từ đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông đường bộ. Các vụ tai nạn giao thông làm 27 người chết và 57 người bị thương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 11 tháng năm nay giảm 10,95%; số người chết giảm 12,65%; số người bị thương giảm 7,79%.
4. Thiệt hại do thiên tai
Từ ngày 15/10/2021 đến ngày 14/11/2021 trên địa bàn tỉnh Cao Bằng xảy ra 02 đợt thiên tai do mưa giông, lốc. Thiên tai làm 0,542 ha hoa màu bị đổ gãy, làm 01 nhà bị đổ sập, 02 nhà bị hư hại, làm sạt lở 15m3 đất đá taluy dương tuyến đường Nà Cạn – Phan Thanh – Hà Trì. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 60,68 triệu đồng.
Lũy kế từ đầu năm xảy ra 21 vụ thiên tai làm 03 người chết (trong đó 02 người chết do sét đánh và 01 người bị lũ cuốn trôi), một người bị thương. Tổng giá trị thiệt hại ước tính 8.343,61 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước số vụ thiên tai tăng 5,0% và giảm 66,67% số người bị thương do thiên tai.
5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 15/10/2021 đến ngày 14/11/2021, cơ quan chức năng đã phát hiện 13 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 05 vụ với tổng số tiền phạt 53 triệu đồng. Tính chung 11 tháng năm 2021 đã phát hiện 146 vụ vi phạm môi trường, xử lý 91 vụ với tổng số tiền phạt là 814 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 52,08% số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện và tăng 15,19% số vụ vi phạm đã xử lý.
Trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/2021 đến ngày 14/11/2021 không xảy ra cháy, nổ trên địa bàn tỉnh.

  File đính kèm:Chưa có tập tin đính kèm!


   

ẢNH HOẠT ĐỘNG

LIÊN KẾT WEBSITE