MyLabel

CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI

PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT

Niên giám Thống kê

Thống kê truy cập

HỌP BÁO CÔNG BỐ TÌNH HÌNH LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM QUÝ II, 6 THÁNG ĐẦU NĂM NĂM 2021 VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT MỨC SỐNG DÂN CƯ NĂM 2020

7/6/2021

Sáng ngày 06/7/2021, Tổng cục Thống kê (TCTK) tổ chức họp báo công bố tình hình lao động, việc làm quý II và 6 tháng năm 2021 và kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2020. Ông Nguyễn Trung Tiến - Phó Tổng cục trưởng TCTK chủ trì buổi Họp báo.


  Ông Nguyễn Trung Tiến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Chủ trì buổi họp báo

Tham dự tại điểm cầu Cục Thống kê Cao Bằng có ông Đoàn Hữu Duyệt - Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh, Trưởng phòng Thống kê Tổng hợp, Lãnh đạo và công chức phòng Thống kê Xã hội, Cục Thống kê tỉnh Cao Bằng.

Tại buổi Họp báo, TCTK đã công bố số liệu lao động, việc làm quý II và 6 tháng năm 2021; báo cáo tác động của dịch Covid-19 đến tình hình lao động, việc làm tại Việt Nam và báo cáo kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2020.

Bà Valentina Barcucci, đại diện Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam đã có bài phát biểu đánh giá cao về báo cáo tỉnh hình lao động, việc làm của Việt Nam quý II và 6 tháng năm 2021 làm cơ sở cho các tổ chức quốc tế đánh giá đầy đủ thực trạng lao động, việc làm của Việt Nam trong thời kỳ bùng phát đại dịch COVID-19 hiện nay.


Bà Valentina Barcucci, đại diện Tổ chứcLao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam

Theo báo cáo lao động, việc làm, làn sóng dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào những ngày cuối tháng Tư đã ảnh hưởng đến đà khôi phục việc làm và cải thiện thu nhập của người lao động trong quý II/2021. Theo đó, quý II/2021, cả nước có 12,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19 bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập…;  lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính 51,1 triệu người, tăng 44,7 nghìn người so với quý trước và tăng 1,7 triệu người so với cùng kỳ năm trước, trong đó lực lượng lao động ở khu vực thành thị tăng 355 nghìn người và tăng hơn 1 triệu người; lực lượng lao động nam tăng 36,3 nghìn người so với quý trước; lực lượng lao động nữ tăng hơn 1,3 triệu người so với cùng kỳ năm 2020.

Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong quý II năm 2021 là 49,9 triệu người, giảm 65 nghìn người so với quý trước và tăng gần 1,8 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc ở khu vực nông thôn là 31,8 triệu người; lao động có việc làm ở nữ là gần 23,4 triệu người.

Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức quý II năm 2021 là 57,4%, cao nhất trong 3 năm trở lại đây. Tỷ lệ lao động phi chính thức khu vực thành thị là 48,6%; khu vực nông thôn là 64,5%.

Số lao động sản xuất tự sản tự tiêu quý II năm 2021 là 4,2 triệu người (tăng gần 0,6 triệu người so với quý trước và 0,5 triệu người so với cùng kỳ năm trước), số lao động này chủ yếu tăng ở khu vực nông thôn.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý II năm 2021 là 2,60%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,38 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý II năm 2021 là 2,62%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,23 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi của khu vực thành thị là 3,36%, tăng 0,17 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 0,95 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Thu nhập của lao động làm công ăn lương quý II đạt 6,8 triệu đồng, giảm 411 nghìn đồng so với quý trước và tăng 455 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Thu nhập bình quân của lao động nam làm công hưởng lương là 7,3 triệu đồng; lao động nữ là 6,2 triệu đồng.

Khái quát lại, những con số thống kê về tình hình lao động việc làm quý II năm 2021 đã phản ánh những khó khăn và biến động của nền kinh tế nói chung và thị trường lao động Việt Nam nói riêng trong thời gian qua. Trước tình hình đó, Tổng cục Thống kê đề xuất một số giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho thị trường lao động trong bối cảnh đại dịch vẫn còn diễn biến khó lường. Cụ thể như sau:

- Tiếp tục thực hiện kiên định mục tiêu kép, vừa quyết liệt phòng chống dịch hiệu quả, vừa tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp và người lao động. Đẩy nhanh tốc độ tiêm vắc xin để đạt được miễn dịch cộng đồng, đặc biệt ưu tiên cho các lao động tuyến đầu, lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất để duy trì sản xuất, ngăn chặn tình trạng đứt gãy chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu.

- Chủ động và tích cực triển khai hiệu quả 12 chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 theo đúng tinh thần của Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2021. Ưu tiên chú trọng thực hiện tốt chính sách hỗ trợ cho người lao động tạm hoãn hợp đồng, nghỉ việc không lương, ngừng việc, chấm dứt hợp đồng và hỗ trợ đào tạo duy trì việc làm cho người lao động.

- Có các chương trình, chính sách khuyến khích thanh niên và lao động trẻ, đặc biệt là những người không có việc làm, không tham gia học tập đào tạo tích cực học tập nâng cao trình độ để sẵn sàng chủ động gia nhập thị trường lao động với hành trang là các kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế trong thời đại kỷ nguyên số 4.0.

- Nâng cao vai trò của hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm trên cả nước nhằm tăng cường kết nối cung - cầu lao động, tạo niềm tin cho người lao động về cơ hội có việc làm, rút ngắn thời gian tìm việc của người lao động, thời gian tuyển dụng của người sử dụng lao động, tăng tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, góp phần tăng trưởng và giải quyết việc làm cho người lao động.

- Tập trung hỗ trợ nhiều hơn đến đối tượng yếu thế trong xã hội (công nhân, buôn bán nhỏ, lao động phi chính thức,…) vì đây là những đối tượng dễ bị tổn thương khi việc thực hiện giãn cách xã hội, bằng những hỗ trợ thiết thực; để giảm thiểu những tác động tiêu cực về mặt xã hội (tệ nạn xã hội, trộm cắp,…).

Về kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2020, trong đó có một số kết quả chính như sau: (1) Thu nhập bình quân (TNBQ) 1 người 1 tháng chung cả nước năm 2020 theo giá hiện hành đạt khoảng 4,2 triệu đồng, giảm khoảng 1% so với năm 2019; (2) Chi tiêu bình quân hộ gia đình cả nước năm 2020 là 2,89 triệu đồng/người/tháng, tăng 13% so với 2018; (3) Tiêu dùng lương thực, thực phẩm có xu hướng giảm dần việc tiêu thụ tinh bột, lượng gạo tiêu thụ bình quân một người một tháng giảm dần qua các năm, từ 9,7 kg/người/tháng năm 2010 xuống còn 8,1 kg/người/tháng năm 2018 và chỉ còn 7,6 kg/người/tháng năm 2020; (4) Nhân khẩu bình quân 1 hộ năm 2020 là 3,6 người/hộ. Nhân khẩu bình quân của hộ nghèo cao hơn hộ giàu, nhân khẩu bình quân 1 hộ của nhóm hộ nghèo nhất (nhóm 1) là 4 người, cao gấp hơn 1,2 lần so với nhóm hộ giàu nhất (nhóm 5); (5) Tỷ lệ phụ thuộc của năm 2020 là 0,69, tỷ lệ phụ thuộc của nhóm hộ nghèo nhất là 0,96 cao hơn 2,1 lần so với nhóm hộ giàu nhất (0,46);  tỷ lệ phụ thuộc của các hộ dân cư thuộc khu vực nông thôn cao hơn so với khu vực thành thị (0,73 so với 0,64); (6) Năm 2020, có 14,9% dân số từ 15 tuổi trở lên không có bằng cấp hoặc chưa bao giờ đến trường, giảm 2 điểm phần trăm so với năm 2018; 20,1% tốt nghiệp tiểu học; 28,5% tốt nghiệp THCS; 17,2% tốt nghiệp THPT; 19,3% có bằng cấp nghề hoặc cao đẳng, đại học trở lên; (7) Có 35,7% dân số khám chữa bệnh trong năm 2020, trong đó 33,87% người khám chữa bệnh ngoại trú và 7,1% người khám chữa bệnh nội trú. Chi tiêu trung bình 1 người có khám chữa bệnh là khoảng 3 triệu đồng; (8) Năm 2020, có 53,4% dân số từ 15 tuổi trở lên có công việc chính là làm công, làm thuê, số giờ làm việc bình quân 1 người 15 tuổi trở lên trong 1 tuần của công việc chính năm 2020 là 36,9 giờ; (9) Tỷ lệ hộ có nguồn nước hợp vệ sinh năm 2020 là 97,4%, tăng 6,9 điểm phần trăm so với năm 2010; (10) Năm 2020, tỷ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt đạt 99,5%; (11) Trên cả nước có tới 99,9% hộ gia đình có đồ dùng lâu bền, trị giá đồ dùng lâu bền bình quân một hộ đạt gần 88 triệu đồng; (12) Tỷ lệ hộ gia đình sống trong nhà kiên cố và bán kiên cố lên tới 95,6%; (13) Tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều chung cả nước năm 2020 là 4,8%, giảm 0,9 điểm phần trăm so với năm 2019, trong đó nông thôn là 7,1%, thành thị là 1,1%; (14) Hệ số GINI (theo thu nhập) của Việt Nam năm 2020 là 0,375 thấp hơn GINI  giai đoạn 2014-2018 ở mức 0,4 nhưng vẫn ở mức bất bình đẳng trung bình. Mức độ bất bình đẳng ở nông thôn cao hơn thành thị.

Năm 2020 tình hình kinh tế - xã hội nước ta diễn ra trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 gặp không ít khó khăn, thách thức do vừa phải chống dịch vừa phải đảm bảo phát triển kinh tế xã hội. Mặc dù thu nhập của dân cư có giảm so với năm 2019 nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn giảm do Chính phủ thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, mức sống vẫn có sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm dân cư giàu và nghèo, giữa các vùng. Đây là vấn đề đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải tiếp tục quan tâm giải quyết./.

 

 NGUỒN: PHÒNG THỐNG KÊ XÃ HỘI

 

 

   

ẢNH HOẠT ĐỘNG

LIÊN KẾT WEBSITE